Lược truyện các bậc tổ sư – phần 2

Vải dệt bằng Tơ gọi là lụa. Để có thật nhiều lụa, công chúa Thiều Hoa xin vua cha cho di dân đến vùng đất bãi ven sông Hồng để làm nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Chính cô là người đã lập ra làng lụa Cổ Đô lừng danh. Truyền thuyết không phải là lịch sử, nhưng truyền thuyết bao giờ cũng phản ánh một sự thực lịch sử nào đó. . Đầu thời Lý, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải của tổ tiên ta đã đạt tới trình độ rất cao. Năm 1011, vua Lý Thái Tổ du ngoạn đến khu vực làng Dâu và xóm Bãi (gần chợ Bưởi, Hà Nội ngày nay). Bấy giờ dân vùng này đã có nghề dệt lĩnh rất nổi tiếng. Kết quả nghiên cứu gần đây cho hay, vùng đất bãi ven sông Đuống (Thuận Thành, Hà Bắc), ngàn xưa là đất của bộ lạc Dâu. Rất có thể, đấy chính là một phần nền tảng lịch sử của truyền thuyết dân gian nói trên… Thời Bắc thuộc, nghề dệt của ta đã đạt được những bước tiến rất đáng kể. Thư tịch cổ của Trung Quốc cho biết, trong những thế kỷ đầu công nguyên, vải cát bá và khăn bạch điệp của nước ta đã rất được khách buôn nước ngoài ưa chuộng. Cát bá là loại vải dệt bằng sợi mịn, còn bạch điệp là loại khăn, trên đó người ta dệt được cả hình những bông hoa màu trắng, khiến cho khi trông xa, chẳng khác gì có cả một đàn bướm đang bay theo dập dờn ở trên đầu. Truyền thuyết dân gian ở vùng Hà Tây kể rằng, tổ sư của nghề dệt vải cát bá là một cô gái trẻ quê ở làng Vạn Phúc (nay thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây). Cô tên gì khi không ai biết, đời chỉ truyền tụng rằng, chính cô là người đã có công khai sáng nghề dệt vải cát bá cho làng Vạn Phúc thuở xưa và cho cả nghề dệt vải lừng danh của đất Hà Tây sau này. Trong kho tàng chuyện kể dân gian, cô gái khuyết danh ở làng Vạn Phúc không phải là người duy nhất được tôn làm tổ sư của nghề dệt thời bắc buộc. Cũng có thể giải thích rằng, nguyên do là bởi đất nước ta thời bấy giờ từng có nhiều làng dệt làng nghề khác nhau. Đầu thời Lý, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải của tổ tiên ta đã đạt tới trình độ rất cao. Năm 1011, vua Lý Thái Tổ du ngoạn đến khu vực làng Dâu và xóm Bãi (gần chợ Bưởi, Hà Nội ngày nay). Bấy giờ dân vùng này đã có nghề dệt lĩnh rất nổi tiếng. Để chào đón nhà vua, họ đã lấy một tấm lĩnh màu đỏ do chính dân làng dệt ra, trên có thêu hình rồng, đem căng ra trước bến sông. Lý Thái Tổ khen dân biết trọng ơn nghĩa, vì thế, cho đổi gọi làng Dâu là làng Nghĩa Đô, xóm bãi là xóm Bái. Đến thời Lý Thái Tông (1028 đến 1054), những người thợ dệt ở nước ta đã dẹt được nhiều mặt hàng cao cấp. Bởi lẽ này, năm 1042, nhà vua đã tự mình làm gương và sau đó bắt quan lại cùng thần dân khắp cả nước may sắm bằng hàng dệt trong nước, quyết không cho ai được may bằng hàng ngoại nhập.
Nguyễn Khắc Thuần- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *