Giới tính của bộ não

Trên phương tiện thuần túy sinh học, những khác biệt giữa bộ não của nam nữ là hoàn toàn có thể. Trong thực tế, các đặc tính vật lý và thái độ đặc trưng cho mỗi giới là do các hệ thống hốc môn khác nhau quy định. Ấy vậy mà các hệ thống hốc môn đó lại chịu sự điều khiển của bộ não. Từ vài năm nay, vấn đề giới tính của bộ não đã là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu. Phần lớn các công trình này nhằm chỉ ra những khác biệt về mặt giải phẫu và công năng giữa bộ não của nam và bộ não của nữ. Gần đây, tạp chí khoa học Nature có đăng công trình của hai nhà nghiên cứu thuộc Đại học Yale – Hoa Kỳ. Nhằm tìm hiểu cơ chế vận hành ngôn ngữ, hai nhà nghiên cứu này đã cho 19 đối tượng nữ và 19 đối tượng nam tham gia vào một trắc nghiệm ngữ âm. Để tìm ra vần của các từ, cả 19 đối tượng nam đều sử dụng bán cầu đại não trái. Trái lại, có đến 11 trong tổng số 19 đối tượng nữ tham gia trắc nghiệm đã dùng đến bán cầu đại não. Điều đầu tiên mà thí nghiệm này cho phép ta khẳng định là để làm cùng một nhiệm vụ, nam và nữ sử dụng bộ não theo những cách khác nhau. Nếu như có người cho rằng đó là một bằng chứng rõ ràng về đặc tính giới của bộ não thì các nhà sinh học thần kinh lại tỏ ra hết sức dè dặt. Và chưa nhà khoa học nào dám khẳng định quả quyết là bộ não của phụ nữ kém chuyên môn hóa hơn bộ não của nam giới. Ngoài những nhận xét giải phẫu học, khi 19 cặp nam nữ tham gia thí nghiệm này thực hiện các bài trắc nghiệm tâm lý để đánh giá khả năng thị giác và vận động thì kết quả thu được giữa nam và nữ cũng không giống nhau. Thường thì nữ có khả năng hoàn thành tốt hơn các công việc liên quan đến ngôn ngữ. Trái lại nam lại tỏ ra có ưu thế hơn trong các công việc cần đế khả năng thị giác và định vị trong không gian. Ngay cả trên khía cạnh này, các nhà khoa học cũng không muốn vội vàng suy đoán. Sự khác biệt về khả năng giữa nam và nữ là một thực tế. Nhưng điều đó không đủ để ta khẳng định nam có trí tuệ phát triển mạnh hơn hay yếu hơn so với nữ. Loài người duy trì nòi giống bằng sinh sản hữu tính. Hình thức sinh sản này đòi hỏi giữa nam và nữ phải có những cơ cấu sinh học và thái độ khác nhau. Chính trên cơ sở những khác biệt này mà những xã hội đầu tiên của loài người đã hình thành. Điều đó cho đến tận bây giờ vẫn đúng. Thường thì thái độ về từng giới là do môi trường văn hóa – xã hội quy định là chủ yếu chứ không phải do yếu tố sinh học. Lịch sử không thiếu những ví dụ trong đó khoa học phải đứng ra để thay đổi những định kiến về giới và chủng tộc. Do được nói đến quá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, những kết quả nghiên cứu liên quan đến sự khác biệt giữa bộ não của nam và nữ thường rất hay bị suy diễn rộng ra. Nguy cơ này còn tăng lên khi các công trình nghiên cứu không khoa học. Các cuộc tranh luận về giới tính của bộ não không phải là điều mới mẻ nhưng cũng chưa thể được làm sáng tỏ hoàn toàn trong một thời gian ngắn. Từ những chứng cứ trên, có lẽ không có gì lạ, khi kết luận rằng nguy cơ nhiễm bệnh không chỉ phụ thuộc vào gen di truyền, mà nhóm máu. Trong mấy năm gần đây, sinh học thần kinh đã có những tiến bộ vượt bậc. Ví dụ như cơ cấu phân tử của trí nhớ hay hoạt động của các nơ – ron đã được biết rõ hơn. Nhưng với lượng kiến thức hiện có, khoa học chưa thể giải thích được sự khác biệt trong thái độ giữa nam và nữ. Bởi vì ngay trong vấn đề giới tính của bộ não, ranh giới giữa các yếu tố bẩm sinh và các yếu tố tập nhiễm vẫn còn chưa được rõ ràng và chính xác.
Tứ Quân- Trí Thức Trẻ – số 30 – tháng 12 – 1997.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *