Category Archives: Tục lệ dân gian

Các bài viết sưu tầm về tục lệ dân gian

Tuần lộc, chim vạc và chim ưng

TUẦN LỘC

Loài hươu ỏ phương Bắc. Thường gặp ở các đài nguyên, taiga và các núi vùng Bắc Cực châu Âu. Tuần lộc dài khoảng l,9m và cao chừng l,lm, nặng trung bình 150kg. Là loài hươu độc nhất trong họ Hươu mà cả con đực và cái đều có sừng. Bộ sừng của tuần lộc cái trưởng thành có thể trỏ nên lớn khoẻ hơn bộ sừng của tuần lộc đực.

Continue reading

Tê tê – thằn lằn

TÊ TÊ

Loài thú, họ Tê tê. Gặp ở Việt Nam, Nêpan, Ân Độ, Mianma, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Đông Dương, Đài Loan. Toàn thân và đuôi phủ vẩy sừng, trừ mặt và bụng. Màu nâu xám. Sống ở rừng núi đất. Đào hang để ở và kiếm ăn. Khi gặp nguy hiểm, tê tê cuộn tròn người lại. An ong, kiến, mối. Đẻ một con vào mùa xuân. Tê tê sơ sinh vẩy mềm, 9 – 10 ngày sau mới mở mắt. Thịt tê tê ngon, mật dùng chữa bệnh hen suyễn, vẩy chữa mụn nhọt và làm thuốc thông sữa. Tê tê tiêu diệt mối, côn trùng hại gỗ. vẩy làm thuốc. Số lượng tê tê hiện nay còn lại không nhiều

Continue reading

Xây dựng đình cổ

Làng đã chọn khu đất ở đầu làng gần với chùa Lâm Dương Quán và Miếu thờ Lương y Dược Linh Thông cư sỹ Hoàng Đôn Hoà để làm Đình mới thay cho Đình cũ. Về vấn đề này chúng tôi đã bỏ công ra nghiên cứu và nhận thấy trong số 4 câu đầu của toà đại Đình có ghi chữ Hán như sau:

Continue reading

Tổ chức bộ máy chính quyền xã trong làng cổ

Bộ máy chính quyền xã là một tập hợp người gồm chỉ có nam giới. Ở đời Gia Long năm thứ 4, các Chỉ tự của làng còn ghi lại đứng đầu xã là Xã trường. Bia đá Đan Sỹ xã bi kị- dựng năm Phúc Thái thứ 6 (1648) cho thấy đứng dầu làng xã lúc ấy là Quan viên Hương lão. Đến các đời sau thấy có:

Continue reading

Giáp và Đồng niên

Tổ chức giáp chỉ có ý nghĩa cho chính quyền làng xã nắm dân được sâu thêm, nhưng vì là một tổ chức không phải huyết thống cho nên công việc trong hàng giáp thường có xích mích không thuận như công việc trong họ tộc. Dù sao tổ chức họ tộc đã ngàn đời cần thiết cho mọi nhà, mọi người, nên người Đa Sỹ rất tự hào về dòng họ và gia tộc nhà mình. Thuở xưa những dòng họ danh giá, “danh gia vọng tộc” thường được những gia đình yếu thế xin vào họ và các họ này từ chối những yêu cầu có tính chất hàm ơn của người khác. Ví dụ ba chi của họ Hoàng là Hoàng Quý, Hoàng Chính và Trung Phú là ba giáp riêng biệt của họ Hoàng khoa danh tế thế đã từ chổi không nhận ruộng gửi hậu của Quan hầu Quan huyện. Gia đình cụ án Nguvễn Bá Xuyến (1759- 1829) thuở hàn vi đã xin vào chi Hoàng Chính và dòng Nguyễn Bá con cháu cụ đã theo mãi hết thế kỷ 20. Gần đây chỉ vì xích mích rất bình thường con cháu họ Nguyễn Bá đã bỏ không theo nữa. Đây cũng là bài học cho thấy nếu không phải huyết thống thì dù đến bao nhiều đời, bao nhiêu năm, cũng có mâm mong để xa đi.

Continue reading

Họ, Tộc và Giáp

Tổ chức theo họ, tộc là huyết thống của mình không ai dám coi nhẹ. Trong họ tộc người được tôn trọng nhất là cụ Trưởng, ông Trưởng, bác Trưởng, anh Trưởng, cháu Trưởng là người được sinh ra ở vào vị trí ấy được thắp hương thờ tổ, được thay mặt cho họ tộc trong mọi công việc về giao tiếp, điều hành, phân phối, phát ngôn. Mỗi khi trong họ tộc có sự vụ gì thì ý kiến của người Trưởng, kể cả là vợ người Trưởng được tôn trọng gần như là ý kiến quyết định. Khi những vị này qua đời cả họ đều để tang với khăn tang đồng loạt. Vi lẽ ấy chính quyền phong kiến vào đầu thế kỷ 20 đã lập ra Hội đồng tộc biển thay cho Hội đồng kỳ mục, rồi sau lại lập ra Giáp biểu nhưng kém hiệu quả phải trở lại Hội đồng kỳ mục. Giáp không phải là tổ chức huyết thống mà là tổ chức có tính chất liên kết giữa các họ tộc khác nhau ở trong làng với nhau để có thêm vây cánh, có thêm lực lượng đáp ứng các yêu cầu của thời cuộc, của công việc do làng xã giao cho. Theo Chi tự lập vào đời Bảo Đại thứ 3 (1928) thì trong làng có 11 giáp như sau:

Continue reading

Ao làng (p2)

Những nhà cẩn thận đã đưa nước giếng khoan đến Viện Khoa học Việt Nam xét nghiệm, kết quả cho thấy nước ở vùng này xử lý không đúng kỹ thuật thì không dùng để ăn uống được. Có lẽ thế nên xưa kia ở Đa Sỹ không hề có giếng khơi. Vào những năm 1975-1985 vì các giếng đất bị ô nhiễm, rất nhiều gia đình phải đào giếng khơi nhưng rồi cũng bỏ dần vì có giếng thì nước thơm nước trong, có giếng thì nước vàng nước tanh hôi, đã thể nhiều giếng dù đào sâu mươi mét cũng không có nước quanh năm. Vì thế giếng khơi ở Đa Sỹ đã không là nguồn nước truyền thống của làng nên bây giờ còn rất ít. Từ tháng 6 năm 2008, làng bắt đầu có nguồn nước sạch do thành phố Hà Đông dẫn về, dân gian quen gọi là nước máy.

Continue reading

Ao làng

Đa Sỹ xưa có hơn 50 cái ao lớn nhỏ rải khắp các xóm. Ao lớn nhất, đẹp nhất là ao Ngoẹ ở xóm cống Xi của nhà cụ Chánh Duật. Nó to đẹp nhất bởi chẳng những về diện tích rộng 5 sào có dư mà còn bởi nó được tạo dựng lên từ đời cụ Huvện người họ Trịnh (ở cuối thế kỷ 18) là cụ Tổ của nhà cụ Duật nhằm tạo một cảnh quan sơn thuỷ hữu tình cho nhà thờ và vườn thờ Cụ. Xung quanh ao được bó vỉa, phía nhà thớ được xây tường hoa. Trẻ con trong làng suốt ngày bơi lội tấm rửa ùm ùm trong ao nước rộng và sạch sẽ này. Các ao khác cũng đều từ mười thước đến vài ba bốn sào. Chúng được thông với nhau bằng hệ thống cống rãnh nhằm trước nhất là để thoát nước cho làng, sau thì của gia đình nào thì gia đình ấy thả rau muống để người ăn, thả bèo để nuôi lợn và cho xóm ngõ tắm rửa giặt rũ. Vì vậy trong làng rất hiếm có trường hợp ao tù nước đọng. Các ao phần lớn không nuôi thả cá. mà chỉ có cá mạt. Riêng ao Đình được làng nuôi thả cá để lấy cá chia cho các giáp làm cỗ, làm gỏi cúng Thiên Quan cầu an vào sáng ngày Ram tháng Hai Âm lịch hàng năm.

Continue reading