Các cuộc hôn nhân của thái tổ lê lợi

Hai dòng họ lớn Lê – Trịnh ở Thanh Hóa nhiều đời gắn liền với nhau, hẳn một phần cũng góp vào cái thế “Lê tồn Trịnh tại” về sau. Mở đầu ta thấy nói đến Lê Lợi, vị hoàng đế khai sáng nhà hậu Lê. Lặp lại cha mẹ, Lê Lợi cũng lấy người con gái họ Trịnh và cùng với đệm tên là Ngọc. Đó là Trịnh Thị Ngọc Lữ. Nhưng lần này lặp lại ở mức cao hơn vì vừa được sự sắp đặt của cha mẹ như cũ, lại vừa là tình yêu của đôi lứa. Ngọc Lữ nhớ mãi ngày cha mình dẫn về nhà một thanh niên dung nhan tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng mồm rộng, bước đi oai vệ như rồng như hổ đã bắn chết con hổ xám cứu ông trong một buổi đi săn. Điều đáng mừng nhất là thanh niên đó lại là người mà ông đã cùng Lê Khoáng sắp xếp cho đính ước với Ngọc Lữ từ trước. Bẵng đi mấy năm, chàng bận đi tập hợp bè bạn, nghiên cứu binh pháp rồi lạc vào khoảng rừng họ Trinh đi săn mà gặp lại. Tuy là đính ước nhưng theo tục của cha mẹ đặt ngoài ý con ngày xưa nên giờ đây là người thân mà vẫn ban đầu gặp gỡ cũng không lạ. Ban đầu bốn mắt đăm đắm nhìn nhau mà hai lòng đều mừng thầm: trời xanh thật khéo run rủi, các bậc cha mẹ thật có con mắt tinh đời… Lê Lợi không cần bàn, sử dụng đã ca ngợi nhiều. Còn Ngọc Lữ thật xứng đáng với tên đệm là Ngọc, một viên ngọc rực rỡ không cần trang điểm vẫn nổi bật lên từ nơi đồng nội núi rừng xanh tươi của trang Bái Đê, huyện Lôi Dương, Thanh Hóa. Cho nên, dù gái hơn trai ba tuổi mà gái vẫn làm cho trái tim người anh hùng thật sự rung động. Sau đó là đám cưới của hai người phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng vào năm 1401, lúc Ngọc Lữ 19 tuổi, sinh ra một trai là Lê Tư Tề và một gái là Lê Tần Tố Nữ hiệu Đào Nữ theo truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết dân gian cho rằng: Trời đã mượn tay người vợ tấm cám ấy để trao thiên mệnh cứu nước cứu dân, lên ngôi hoàng đế cho Lê Lợi. Bởi chỉ có tấm thân ngọc nữ giáng trần cao quý đặc biệt đó mới xứng đáng làm môi giới giữa thiên đình với người anh hùng có chân mệnh thiên tứ. Cụ thể là người phường chài ở sách Mục Sơn bắt được lưỡi kiếm báu có khắc dòng chữ triện dâng cho Lê Lợi, nhưng chuôi thì chính Ngọc Lữ với cặp mắt tinh anh đã phát hiện từ gốc đa có ánh sáng. Bà thấy rõ chuôi kiếm khắc hình con rồng hổ với hai chữ là Thanh Thúy hợp với biệt hiệu của mình là Thanh Giang. Ngọc Lữ còn bắt được quả ấn báu khi ra vườn và bốn chữ Thuận Thiên Lê Lợi. Bằng đầu óc thông tuệ bà đã góp phần cùng Lê Lợi giải thích trọn vẹn bài chú truyền ý của trời cho Lê Lợi. Sau đó là những ngày chuẩn bị khởi nghĩa. Trịnh Thị Ngọc Lữ là trợ thủ đắc lực nhất của Lê Lợi trong việc tích trữ lương thảo vá may quân phục, động viên tướng sĩ. Khi khởi nghĩa, bà giữ trọng trách hậu cần, tổ chức đời sống bảo vệ hoặc sơ tán quyến tướng sĩ. Đáng tiếc công việc chưa đi đến đâu thì Ngọc Lữ đã hi sinh. Theo Lê triều thông sử của Lê Qúy Đôn cho rằng bà mất vào năm Thái Hòa khoảng năm 1443 – 1453 đời Lê Nhân Tông. Điều đó không đúng. Phải chăng năm 1438 Lê Tư Tề bị em ruột là Thái Tông hoàng đế ghen tị, sợ ảnh hưởng đến ngai vàng đã dựng án để cách tuột anh xuống làm thường dân… Con còn thế liệu mẹ có thể được yên không? Thật ra, vào một đêm ngày 16 tháng 4 năm Mậu Tuất năm 1418 tên Việt gian là Ái, phụ đạo trại Nguyệt Ấn dẫn quân Minh tắt lẻn đánh úp vào hậu cứ quân ta, bắt được hàng loạt gia quyến tướng sĩ trong đó có Trịnh Ngọc Lữ. Để chống lại âm mưu của nhà Minh định dùng mình là vật nhằm yêu sách của Lê Lợi, đưa vị thủ lĩnh Lam Sơn vào tròng và để bảo toàn danh tiết, ngày 9 tháng 5 năm 1418, Ngọc Lữ đã tuẫn tiễn. Đúng như dân gian đã truyền lại lời trăng trối của bà:
Ta là lệnh nữ
Khi ta về trời
Không hòn tên mà chẳng mũi đạn
Không có gươm đao của quỹ dữ ở đời
Chỉ cần một chén rượu thôi.
Hồn ta thoát xác về trời….
Sau hôn nhân ở Thanh Hóa đó là hôn nhân ở Nghệ An, khi nghĩa quân Lam Sơn mở rộng hoạt động vào xứ Nghệ theo lời bàn của tướng Nguyễn Chích. Lê Lợi sai các tướng Đinh Lễ, Bùi Bị liên lạc với trang Phụng Công, một trang trại rộng lớn với những lực lượng chống Minh của hoàng hậu Bạch Ngọc, vợ thứ ba vua Trần Duệ Tôn từ năm 1372 đến năm 1377 đang ẩn náu ở lưu vực sông sâu. Để tranh thủ các lực lượng chống Minh còn sót lại từ thời hậu Trần ở Nghệ An, do sự mối lái của Bùi Bị, Lê Lợi đã cưới công chúa Huy Chân tức là Ngọc Hiền, con gái bà Bạch Ngọc làm thứ phi. Hôn nhân ấy đã sinh ra công chúa Ngọc Châu tức là Trang Từ. Sau này Trang Từ lớn lên kết hôn với Bùi Ban, còn Bùi Bị để đáp lại công lao họ Bùi đã làm ông tư cho vua ngày trước. Nhờ có mối duyên đẹp ấy, Lê Lợi có thể lấy trang Phụng Công làm căn cứ hậu cần để sử dụng một cách an toàn kín đáo toàn bộ khu vực từ bến đò Linh Cảm ngày nay cho đến phía chùa Am, nơi giao lưu đi Lào, đi đèo Ngang, đi núi Thành, Cửa Hội, chuẩn bị nhỏ thành Rum thành Nghệ An hay Lam Thành. Trên bờ sông Cả, ở xã Triều Khẩu, phía Nam thành Rum có ngôi đền thờ thần Cá Qủa nổi tiếng linh thiêng. Khúc sông ở đây sống to gió lớn thuyền bè qua lại thường bị lật úp. Người ta đồn rằng thuyền lật vì không giết sinh vật để cúng thần. Đúng lúc nghĩa quân đang chuẩn bị phản công khắp các mặt trận, một cánh tiến vào giải phóng Tân Bình – Thuận Hóa, một cánh tiến ra bao vây thành Diễn Châu và Tây Đô, làm bàn đạp tiến ra Bắc bao vây Đông Quan thì có tin vào tháng 4 năm 1424 bọn tham tướng nhà Minh là Lý An sắp dẫn một cánh quân vào giải vây Nghệ An.
PTS Đinh Công Vĩ- Trí Thức Trẻ – số 31 – tháng 1 – 1998.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *