Cá gai rồng

Ngày 22 tháng 2 năm 1938, từ Phi châu đưa ra một tin tức làm chấn động giới động vật học thế giới: Tại Ấn Độ Dương phía ngoài cửa sông Trarônma 5 – 6km, gần vối cảng đông Luân Đôn Nam Phi, trong nước biển sâu 80m, ngư dân đã bắt được một con cá lạ dài 153 cm, nặng 57,7kg. Con cá này toàn thân phủ một lớp vẩy hình tròn to trơn nhẫy, phát ra ánh sáng xanh lam rất đẹp. Nó quẫy dữ dội trên boong suốt ba tiếng đồng hồ rồi mối chết. Chưa có ai trông thấy loài cá này, ngư dân quyết định tặng nó cho nhà bảo tàng địa phương. Đáng tiếc là đang thời gian lễ Nôel, vận chuyển của bưu điện chậm trễ, làm cho nội tạng của con cá này biến chất. Vì thế, nhân viên công tác của nhà bảo tàng đông Luân Đôn đã vứt bỏ thịt, nội tạng và xương nó đi, chỉ lấy được da có cả vây và phần xương đầu của nó làm tiêu bản. Các nhà khoa học lần đầu tiên nhìn thấy con cá này đã không thể tin vào mắt mình, vì đây là một loại cá hầu như không còn tồn tại đên bây giò, vì nó đã sốm phải tuyệt chủng vào 120 triệu năm trước hoặc 60 triệu năm trưốc. Nó là một loài cá vây tổng thuộc loài cá gai rỗng. Cá vây rỗng sống vào khoảng 350 triệu năm trước đây. Một chi của nó, loài cá vẩy xương, là tổ tiên của loài lưỡng thê đã tuyệt diệt vào hơn hai trăm triệu năm trước. Thật không ngờ còn một chi lẻ của cá gai rỗng trải qua bao biến đổi, tồn tại đến bây giờ. Vì trong vây đuôi của loài cá này, có hình chiếc lá nhô lên như chiếc mâu, nên giáo sư Smith đặt tên cho nó là “cá đuôi mâu”. Cá đuôi mâu lại có khí nang tựa như phổi rất lớn, nó lại còn có vây đôi bằng thịt trong có xương chông giữ, nên có thể di động theo các hướng được, khiến nó bò đi bắt mồi dưới đáy nước được. Khung xương vây ngực của nó rất giông loài lưỡng thê cổ đại. Đây chính là lần đầu tiên con người được chứng kiến sự tiến hoá từ loài cá sang loài lưỡng thê từ sinh vật sống chứ không phải từ hoá thạch. Nghĩa là, cá đuôi mâu là bằng chứng sống quý báu trong lịch sử tiến hoá của động vật xương sống từ dưới nước lên cạn. Bởi thê có người coi sự phát hiện ra cá đuôi mâu là sự kiện trọng đại nhất trong động vật học thế kỷ XX.

Mười bốn năm sau, ngày 20 tháng 12 năm 1952, gần đảo Anguang, trong quần đảo Cômôrô đầu Bắc eo biển Môdămbich, ngư dân buông câu ở chỗ nước sâu 255 m và câu được một con thứ hai tương tự. Căn cứ vào sự khác biệt rất nhỏ giữa nó với con thứ nhất, nó không có vây lưng thứ nhất và vây đuôi giữa, Smith đặt tên cho nó là “cá mã lam”. Qua nghiên cứu, thấy hai con cá này là cùng một loài, chỉ khác là con thứ hai đã có biến dạng ít ‘nhiều. Dù nhiều năm nay, rất nhiều nhà khoa học đặt giải thưởng lớn tìm mua loại cá này, nhưng hơn 40 năm từ ngày có con thứ nhất đến bây giờ, cá bắt được vẫn chưa đủ một trăm con.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *