Bất cập đào tạo đại học việt nam

Thử tìm một giải pháp khởi đầu cho Việt Nam thành công nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua khai thác đội ngũ trí thức sinh viên: Theo số liệu thống kê, trong khi số sinh viên được đào tạo giảm đi theo động thái phát triển tương đối, thì số sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng không tìm được việc làm ngày càng tăng lên. Chẳng hạn từ năm 1988 đến nay, số sinh viên tốt nghiệp ở 19 Trường đại học khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% lên tới 35%. Cụ thể tỷ lệ sinh viên không tìm thấy được việc làm đúng ngành ở Đại học y khoa là 91,13%, Đại học dược khoa là 83,33%, Đại học tổng hợp là 74,36%, Đại học Sư phạm I là 48,21%. Một số liệu khác cũng đáng suy nghĩ hơn 50% sinh viên chấp nhận có việc làm trái ngành. Rõ ràng là một lượng lớn lao động kỹ thuật cao chưa được tận dụng và quy tụ đúng ngành để tạo ra những giá trị bù đắp lại phần chi phí xã hội đã bỏ ra để đào tạo họ, nói chi đến có những phát minh, sáng kiến có tính đảo lộn. Xét về mặt lo-gich học, sự thiếu đồng bộ trong tất cả các khâu trong quá trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực là một trong những lãng phí lớn nhất trong tất cả các loại lãng phí trong thời đại ngày nay. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên chất lượng tuyển sinh còn tùy tiện, chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo còn quá kém, chưa tương xứng với cấp học, đào tạo còn nặng tính lý thuyết, mô phạm, chưa gắn với thực tiễn, ứng dụng điều tra giáo dục học cho thấy trên 50% sinh viên không kịp thích ứng với chính ngành mình được đào tạo, nhiều hệ đào tạo Đại học bán chính quy, phi chính quy tại một số Trường đại học nặng về đáp ứng nhu cầu người học hơn là đào tạo theo các chuẩn mực quy định của một cấp bằng Đại học. Mặt khác, việc sử dụng lao động chưa tương xứng với khả năng tiềm tàng và khả năng phát triển của họ… Chính người sinh viên là nguồn gốc tiềm năng ban đầu, là giải pháp cơ sở xuất phát để có một cơ chế kinh tế phát triển nhanh và vững chắc đối với bất cứ nước nào. Tuy nhiên, thực tế những năm qua còn cho thấy có 3 nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên ở những nước kém phát triển và một số cơ chế quản lý vĩ mô không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế thị trường như Việt Nam, một là chất lượng thật sự của bậc học Đại học chưa bảo đảm, hai là khả năng độc lập nghiên cứu của sinh viên yếu, và ba là, thiếu một cơ chế khuyến khích để khai thác chất xám sinh viên. Bước sang kỷ nguyên mới, thời kỳ mới, thời kỳ của bùng nổ các thông tin, công nghệ, của các giá trị sáng tạo, rõ ràng là các nước kém phát triển nhanh chóng điều chỉnh lại hệ thống quản lý nhất là quản lý đào tạo của mình, mới có cơ may tiếp cận và ứng dụng được các thành tựu tiên tiến nhất mà các nước phát triển đã nghiên cứu thành công. Từ đó mới có thể hòa nhập được về mặt kỹ thuật cũng như mọi lĩnh vực khác của các nền văn minh trên thế giới. Các Trường Đại học chính là nơi cung cấp lớn nhất nguồn nhân lực có trình độ cao cho toàn bộ nền kinh tế. Tình hình đó đáng báo động không những chỉ riêng ngành giáo dục, đào tạo mà về lâu dài, nó còn gây tác hại dây chuyền vô cùng tai hại đối với tất cả các ngành cần nguồn lao động sinh viên. Để góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại nền kinh tế Việt Nam, nên chăng ngay từ bây giờ, một trong những giải pháp quan trọng đáng được tập trung nghiên cứu sâu, là phải nghiên cứu đồng bộ hóa quá trình đào tạo và sử dụng các nguồn nhân lực từ các trường Đại học theo một hệ thống khép kín và thật sự hữu hiệu. Làm thế nào để bước vào đầu thế kỷ XXI, nền giáo dục đào tạo nước ta ít ra cũng có thể hòa nhập được và theo kịp nền giáo dục, các nước như Nhật Bản, Singapore, Malaysia… trong khu vực. Trước hết các trường đại học phải tiêu chuẩn hóa lại toàn bộ quá trình đào tạo từ khâu tuyển sinh đến khâu sinh viên tốt nghiệp và sử dụng tật tốt nguồn nhân lực quý giá này. Cần thiết phải thật nghiêm khắc đối với các hệ đào tạo chính quy. Các hệ không chính quy phải có những quy định về mức, bậc, ngạch đào tạo đúng quy chuẩn đào tạo đại học thống nhất trong toàn quốc. Phải cải tiến nội dung giảng dạy từ việc nghe giảng ở giảng đường, tự nghiên cứu ở các thư viện, phòng thí nghiệm, tiếp cận và đối thoại từ thực tiễn, đến quá trình làm tiểu luận, luận văn, đồ án tốt nghiệp đúng với chuyên ngành và mang sắc thái thành công rõ nét của một phương pháp nghiên cứu tốt đã được trang bị ở Đại học, liên tục cập nhật tri thức mới, có tính ứng dụng thực tiễn cao đối với sinh viên. Điều quan trọng nhất, phải trang bị cho người sinh viên một phương pháp tự nghiên cứu độc lập, tự giác cao, mà không cần phải có sự tác động cưỡng chế từ bất cứ một tác nhân nào, để sau này người sinh viên có khả năng tự giải quyết được bất cứ vấn đề gì do thực tiễn đặt ra thuộc ngành mình đã học ở Đại học. Mặt khác, một cơ chế khuyến học, khuyến tài có tính quốc gia, tức là có sự thống nhất cao giữa Bộ đại học và các Bộ khác được chính phủ quy định phải được tất cả các ngành cùng có trách nhiệm quan tâm và liên tục tạo điều kiện để người sinh viên luôn cảm thấy thỏa mãn xứng đáng với các giá trị khoa học do chính mình tạo ra. Một nền đào tạo đại học tiến bộ là nền tảng vững chắc cho sự nảy sinh các giá trị khoa học tiên tiến. Nếu làm được như vậy, lúc đó mới có thể hy vọng rằng, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa có cơ hội được tiến hành một cách nhanh chóng hơn do chính các mắc xích từ những sinh viên này tạo ra.
Nguyễn Hoàng Dũng- Trí Thức Trẻ – số 33 – tháng 3 – 1998.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *