Ao làng (p2)

Những nhà cẩn thận đã đưa nước giếng khoan đến Viện Khoa học Việt Nam xét nghiệm, kết quả cho thấy nước ở vùng này xử lý không đúng kỹ thuật thì không dùng để ăn uống được. Có lẽ thế nên xưa kia ở Đa Sỹ không hề có giếng khơi. Vào những năm 1975-1985 vì các giếng đất bị ô nhiễm, rất nhiều gia đình phải đào giếng khơi nhưng rồi cũng bỏ dần vì có giếng thì nước thơm nước trong, có giếng thì nước vàng nước tanh hôi, đã thể nhiều giếng dù đào sâu mươi mét cũng không có nước quanh năm. Vì thế giếng khơi ở Đa Sỹ đã không là nguồn nước truyền thống của làng nên bây giờ còn rất ít. Từ tháng 6 năm 2008, làng bắt đầu có nguồn nước sạch do thành phố Hà Đông dẫn về, dân gian quen gọi là nước máy.

Chuôm ở ngoài đồng dùng để tích nước chống hạn và tưới cho cây trồng vụ đông. Đáng kể nhất có chuôm dộc Đống Dấm của cụ Từ Thà và của cụ trưởng bạ Thiết đã được nông hội đào sâu hơn, rộng hơn cùng với chuôm của cụ Nhâm để lấy nguồn nước chống hạn cho lúa và màu, từ năm 1955 khi quê hương vừa được hoàn toàn giải phóng.

Đa Sỹ xưa có rất nhiều cây cổ thụ, có nhiều cây vài ba trăm năm tuổi tập trung nhiều nhất ở khu vực chùa Lâm Dương Quán, Miếu thờ Lương y Dược Linh Thông cư sỹ, Văn chỉ, quanh bờ ao Đình, Vườn học, Bồ Đa, Đống Dấm, Chùa Sẽ. Có những cây bốn, năm trăm năm tuổi như cây đa Hàng Diệu (ở chợ Đa Sỹ) đã bị bom B52 của giặc Mỹ đánh đổ vào tháng 12 năm 1971, cây đề ở giữa sân chùa Lâm Dương Quán và Miếu, cây muỗm ở Đống Dấm. Cây đa ở công chùa Lâm Dương Quán có nhiều rễ to như những cây khác chụm vào cây chính. Người xưa nói đấy là dấu hiệu cho thấy ở Đa Sỹ các cụ bà sống thọ hơn các cụ ông.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *