Monthly Archives: July 2016

Vì sao năm mậu dần 1998 có 2 tết Đoan Ngọ? – Phần 2

Tuy nhiên, người cổ đại rất kính trời, coi trời là Thiên Đế – có quyền uy vô thượng; Cho nên quỹ đạo của mặt trời còn được gọi với cái tên kính trọng là “Thiên Hoàng Đạo”. “Thiên” là chủ tể của muôn vật”, “Hoàng” là màu vàng – có vị trí trung tâm, còn “Đạo” là con đường của Thiên Hoàng đi lại. Mặt khác, hiện tượng mà chúng ta nhìn thấy như thế, là do trái đất tự quay chung quanh trục của mình sinh ra. Vì đứng trên trái đất, nên ta tưởng trái đất đứng yên và bầu trời quay tròn.
Để định vị, Hoàng Đạo được chia thành 12 phần bằng nhau, mỗi phần bằng 30 độ, gọi là các “Cung Hoàng Đạo”. Nếu mỗi cung lại chia đôi, thì Hoàng Đạo sẽ chai thành 24 phần nhỏ, mỗi phần 15 độ. Khi mặt trời đi tới một điểm phân chia cung nào đó (các vị trí 0, 30, 60… độ) thì có một “khí”, thí dụ, mặt trời đi tới điểm 0 độ ta có khí Xuân phân, tới điểm 30 độ ta có khí Cốc vũ… Còn khi mặt trời đi qua các vị trí giữa cung (15, 45, 75… độ) ta sẽ có các “tiết”, thí dụ vị trí 15 độ trên cung hoàng đạo ứng với tiết Thanh minh, 45 độ là tiết khí Lập hạ… Tất cả có 12 tiết khí và 12 tiết, cộng lại là 24 tiết khí.
Khí với tháng m lịch
Thông thường một tháng m lịch có một khí và một tiết. Song lịch pháp m lịch gán cho mỗi tháng một khí nhất định. Mỗi khí tiêu biểu cho một tháng – không có khí không thể gọi là “tháng bình thường”. Cụ thể là: Tháng giêng phải có khí Vũ thủy, tháng 2 – Xuân phân, Tháng 3 – Cốc vũ, Tháng 4 – Tiểu mãn, Tháng 5 – Hạ chí, Tháng 6 – Đại thử, Tháng 7 – Xử thử, Tháng 8 – Thu phân, Tháng 9 – Sương giáng, Tháng 10 – Tiểu tuyết, Tháng 11 – Đông chí, Tháng 12 – Đại hàn.
Tuy nhiên, thời gian giữa hai “khí” liên tiếp bằng khoảng 30 ngày, trong khi tháng m lịch trung bình bằng khoảng 29 ngày – sai khác nhau một ngày; Cho nên, cùng với thời gian, ngày khí trong các tháng cứ lùi dần về phía cuối tháng và đến một lúc nào đó, tháng tiếp sau sẽ không còn có khí nữa. Tháng không có ngày “khí” thuộc loại “không bình thường” gọi là “tháng nhuận”. Tháng nhuận có cùng tên với tháng trước đó. Ví dụ: năm Ất Hợi 1995 ngày khí Thu phân xuất hiện vào ngày 29 tháng 8 m lịch, tháng tiếp sau không có ngày khí nên là tháng 8 nhuận; Hay như năm Mậu Dần 1998, khí Hạ chí xuất hiện vào ngày 27 tháng 5, tháng tiếp sau không có chứa ngày khí, nên gọi là tháng 5 nhuận.
Bí mật của tháng nhuận
Điều đặc biệt lý thú là, cách xếp đặt nhuận như trên lại rất phù hợp với tính toán thiên văn và phù hợp với quy tắc “19 năm có 7 năm nhuận” như chúng ta đã nói ở trên. Bên phương Tây, tới thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên nhà thiên văn Meton cũng phát hiện ra một quy luật tương tự. Meton phát hiện thấy: số ngày trong 19 năm đúng = 235 tuần trăng. Nếu mỗi năm có 12 tháng thì 19 năm mới có 19 x 12 = 228 tuần trăng, còn thiếu 7 tuần trăng nữa, vậy cứ 19 năm 7 năm nhuận. Chu kỳ như vậy mang tên là “Chu kỳ Meton”. Nếu so sánh với các số đo chính xác hiện đại của “tuần trăng” và “năm thời tiết” thì sẽ thấy cái chu kỳ 19 năm ngang với 235 tuần của Meton là rất kỳ diệu: 19 x 65,242200 = 6939,6018 ngày; 235 x 29,530588 = 6939,6882 ngày. Chu kỳ Meton thực ra đã được người Trung Quốc phát minh ra sớm hơn rất nhiều. Có điều chu kỳ đó được người Trung Quốc gọi là “chương”. Người Trung Quốc còn sử dụng một loại chu kỳ lớn gấp 4 lần chương, với tên là “bộ”. Theo sách “Chu Bễ Toán Kinh”, hai khái niệm trên đã có từ trước thời nhà Chu (trước năm 1066 trước Công nguyên).
“Chương” của người Trung Quốc và “Chu kỳ Meton” của người Hy Lạp, đúng là những phát triển kỳ diệu, song lịch pháp vẫn chưa đạt tới được trình độ lý tưởng! Sự kiện năm Mậu Dần 1998 sẽ có 2 tháng 5 – dân chúng hai lần được ăn Tết Đoan Ngọ, thực chất là do sự tích lũy các số lẻ trong phương pháp tính lịch tạo ra. Nó không liên quan đến hiện tượng kỳ bí nào đó – bỗng nhiên xuất hiện trong thiên nhiên hoặc trong xã hội! Mặt trời – Mặt trăng và Trái đất vẫn cứ quay theo quỹ đạo của mình. Con số ngày tháng – năm trong lịch, thực chất chỉ là những “cái mốc thời gian” do con người đặt ra – nhằm phản ảnh quy luận chuyển động khách quan của thiên thể và để lập kế hoạch cho sinh hoạt xã hội. Vì vậy, bản thân các con số trên tờ lịch không thể nào gắn liền với vấn đề “cát – hung – họa – phúc” mà những người mê tín đã gán ghép cho chúng. Con người làm ra lịch, đồng thời sự mê tín và thần bí hóa tờ lịch, cũng chính do con người tạo ra!
Thái Hư – Trí Thức Trẻ – số 31 – 1998

Vì sao năm mậu dần 1998 có 2 tết Đoan Ngọ? – Phần 1

Trong âm lịch truyền thống, năm Mậu Dần 1998 là một năm đặc biệt: đó là một “năm nhuận” và sẽ có tới 2 tháng 5 – “tháng 5 thường” và “tháng 5 nhuận”. Từ xưa, dân chúng vẫn cho rằng năm nhuận là “năm xấu” – gắn liền với “thiên tai, dịch họa”. Vậy sự thật là thế nào? Năm nhuận có liên quan đến vấn đề “Cát – Hưng” hoặc “Họa – Phúc” như một số thầy bói thường phán đoán hay không? Để trả lời những câu hỏi đó, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu một số nét về phép tính lịch.
Đặc điểm của âm lịch nước ta
Tuy Dương lịch hiện nay là thứ lịch chính thống, song Âm lịch truyền thống (tạm viết tắt là ÂL) vẫn gắn liền với phong tục, tập quán của dân tộc và cũng có những vai trò và tác dụng riêng: Như giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết: Tất cả các phép làm lịch đều lấy sự vận chuyển của mặt trời và mặt trăng trên bầu trời làm gốc và bí quyết của mọi phép làm lịch là: hợp số nguyên ngày thành “tháng”, sao cho tháng mãi mãi phù hợp với sự vận chuyển của mặt trăng (tuần trăng); hợp số nguyên tháng thành “năm”, sao cho năm cũng mãi mãi ứng với chuyển động của mặt trời. Khốn nỗi, đạt được mục đích ấy là rất khó. Bởi vì, chu kỳ sáng trăng – “tuần trăng” và chu kỳ của mặt trời – “năm thời tiết”, đều là những số có phần lẻ. Với độ chính xác ngày nay, tuần trăng bằng 29,530588 và năm thời tiết bằng 365,242200 ngày. Chính những phương pháp khắc phục các con số lẻ đó, đã đẻ đủ ra các thứ lịch: từ xưa ta đã biết, các lịch hiện nay đang dùng và các thứ lịch sẽ xuất hiện trong tương lai.
Dương lịch được tính theo chu kỳ chuyển động của trái đất chung quanh mặt trời và lấy “năm” làm đơn vị chuẩn. Còn m lịch được tính dựa trên cả chuyển động của mặt trăng, chung quanh trái đất của trái đất quanh mặt trời. Mặc dù m lịch lấy “tuần trăng” làm đơn vị chuẩn, song nó còn tính đến cả sự chuyển động của trái đất chung quanh mặt trời; Cho nên m lịch truyền thống thực chất là một thứ “ m dương hợp lịch” chứ không phải là thứ “ m lịch thuần túy” như Lịch Mặt Trăng của các nước Hồi giáo. Tháng trong m lịch vốn là “đơn vị tự nhiên”, nên rất thuận tiện cho sinh hoạt hàng ngày: nhìn hình dạng của mặt trăng lên bầu trời ban đêm, là có thể biết ngay ngày nào trong tháng.
Trong m lịch tháng trung bình bằng 29,5 ngày, một năm có 12 tháng và số ngày trong năm chỉ bằng khoảng 345, ít hơn năm dương lịch (năm thời tiết) khoảng hơn 10 ngày; Để cho năm m lịch phù hợp hơn với năm thời tiết, khởi đầu cứ 3 năm người ta lại thêm một năm có 13 tháng gọi là “năm nhuận”. Thế nhưng sau một thời gian dài, người đã đã nhận thấy, làm như vậy thì lịch không phản ánh đúng sự biến đổi của thời tiết. Dần dần các nhà làm lịch đã tìm ra được cách đặt nhuận phù hợp nhất, đó là cứ 19 năm thì thêm vào đó 7 năm nhuận. Đó là một phát minh độc đáo trong phép tính lịch của người xưa.
Tiết khí và các cung hoàng đạo
Cách tính m lịch gắn liền với “Tiết Khí” là sáng tạo độc đáo của người phương Đông xưa và dần dần được sử dụng trong phép tính lịch. 24 tiết khí là: Lập xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ, Lập hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử, Lập thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng, Lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn. 24 tiết khí thực chất là do 12 “tiết khí” (tạm gọi là tắt là “tiết”) và 12 “trung khí” (tạm gọi tắt là “khí”) hợp thành: sau một tiết là một khí, sau một khí là một tiết, cứ thế nối tiếp nhau.
Thời tiết khí hậu trong một năm có liên quan mật thiết với tiết khí. Lập xuân, Lập hạ, Lập thu và Lập đông là những khởi điểm của bốn mùa. Xuân phân, Thu phân, Hạ chí và Đông chí là những điểm chuyển tiếp. Tiểu thử, Đại thử, Xử thử, Tiểu hàn và Đại hàn biểu thị cho những mức độ nóng lạnh khác nhau. Bạch lộ, Hàn lộ và Sương giáng biểu tượng cho sự ngưng tụ của hơi nước trong giai đoạn nhiệt độ đã xuống thấp. Vũ thủy, Cốc vũ, Tiểu thuyết và Đại tuyết biểu tượng cho lượng nước tưới xuống mặt đất. Còn Kinh trập, Thanh minh, Tiểu mãn và Mang chủng tiêu biểu cho cảnh vật thiên nhiên và đời sống nông nghiệp.
Tiết khí thực chất là các vị trí đặc biệt trên quỹ đạo chuyển động của trái đất chung quanh mặt trời. Nhìn lên bầu trời, ta thấy mặt trời, mặt trăng và các vì sao chuyển dần dần từ Đông sang Tây, giống như là quay theo một cái trục vô hình. Đường đi của mặt trời trên bầu trời gọi là “Hoàng Đạo”.
Hoàng Đạo là quỹ đạo chuyển động của mặt trời trên bầu trời, cho nên không thể mang ý nghĩa về “cát, hung, họa, phúc”.
Thái Hư – Trí Thức Trẻ – số 31 – 1998

Đôi đũa

Ngày tết, phong tục, nghi lễ thăm hỏi, lễ bái, chúc tụng, thú vui, trò chơi, phong bao cho con trẻ và những món ăn cổ truyền bánh chưng, dưa hành, thịt đông giò chả… mới là điều đáng nói. Đôi đũa, hai cái que vót trơn dùng để gắp thức ăn thì có đáng kể gì. Nhưng thử xem, bạn biết gì về đôi đũa. Và trong bữa ăn, bên mâm cỗ Tết, không có đôi đũa thì sẽ ra sao?
Ấy thế mà cũng lắm chuyện chung quanh cái vật gia dụng tầm thường ấy. Trước hết, với nhiều nước châu Á, trừ người theo đạo Hồi, đạo Ấn gì đó chỉ ăn bốc thì không kể, thiếu đôi đãu trong bữa ăn, mâm cơm ngon mấy cũng chẳng ra gì. Đũa, xin chớ coi thường nó. Đứng về vật lý mà nói, đó là thứ công cụ chắp dài thêm các ngón tay người, được sử dụng theo nguyên lý đòn bẩy một cách thần tình để gắp và đưa thức ăn vào miệng. Khi ăn, ngón tay làm thao tác gì thì đũa làm được tuốt. Nó còn cao thủ hơn tay vì nó đâu có sá gì thức ăn nóng sôi sùng sục hay lạnh buốt tim gan.
Cầm đũa cũng là nghệ thuật. Nếu bạn nhìn cung cách của người cầm đũa trong lúc ăn, bạn sẽ thấy ở đây thể hiện tính nết, phong thái tao nhã, từ tốn, lịch sử hay hấp tấp, khua khoắng, ồn ào. Có những bàn tay nữ cầm đũa ăn rất đẹp, rất duyên làm ta chỉ muốn nhìn mà quên cả ăn. Ngược lại, có những bàn tay nữ dẫu thon đẹp nhưng cầm đũa ăn lại vụng, không vừa mắt tí nào. Ngoài đoán chữ, đoán tay, đoán mặt, có thể có thêm một khoa tướng số đoán vận mệnh về cầm đũa hay không?
Cầm đũa đã đành nhưng việc so đũa và chai đũa trong bữa cơm cũng mang tính văn hóa truyền thống. Ăn cơm Tây thì dao thìa nĩa đã đặt sẵn cho từng thực khách. Còn trên mâm cơm ta thì bát để cả chồng, đãu chặt một bó. Lúc cả nhà ngồi vào đầy đủ, người có thứ bật thấp nhất trong nhà mới bắt đầu so đũa. Ông bà được so đũa trước, thứ đến bố mẹ rồi các anh các chị, chót mới đến phần mình. Nếu có khách thì khách là kẻ ưu tiên. Cử chỉ ấy tỏ niềm cung kính bậc trên. Ai so đũa không theo trật tự ấ là thiếu gia giáo, lễ độ.
Theo các nhà nhân loại học Mỹ, đôi đũa phát sinh từ Trung Quốc đén thế kỷ – thế kỷ 6 lan dần sang Nhật rồi các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.
Nhưng mà anh cứ khen mãi đôi đũa của anh theo lối dân tộc hẹp hòi, vậy dao nĩa phương Tây thì sao? Thưa rằng: không chỉ phương Tây mà người Tàu cổ đại cũng đã dùng dao nĩa. Thời Đường, từ thế kỷ 7, còn lưu lại những bộ dao nĩa bằng bạc, bằng xương chạm trổ tinh vi. Nhưng rồi người ta cũng bỏ dao nĩa để trở lại với đôi đũa cổ hữu. Bởi vì người ta cảm thấy cồng kềnh vừa ăn vừa cắt, vừa xốc vừa xỉa mới cho được thức ăn vào miệng, lôi thôi quá. Việc gì không cắt, không thái trước lúc nấu nướng trong bếp, có phải tiện hơn không? Đó là một lẽ. Một lẽ khác có vẻ nhân văn hơn, nhân bản hơn là người phương Đông vốn yêu hòa bình không muốn thấy con dao cắt, cái nĩa xiên là những dụng cụ có hơi hướng chiến tranh trong một bữa ăn vui vẻ, hiền lành. Ngay phương Tây cũng có người không khoái dao nĩa nhưng chẳng làm thế nào khác được. Một mục sư người Đức thời xưa đã than thở: “Dao nĩa là những vật dụng tội ác để ăn cơm. Nếu chúa biết con cái của Người dùng nó thì chắc là Người không nặn cho chúng ta những ngón tay rồi!”. Thế đấy.
Đôi đũa thân thiết với người Việt Nam từ lâu lắm. Đũa đã đi vào ca dao, tục ngữ để làm hình tượng nói lên nhiều cảnh ngộ. Tốt đẹp, êm thấm thì: “Hai ta như đũa có đôi”, “Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng”. Cao đạo, kênh kiệu, thì: “Thôi đừng đũa mốc mà chòi mâm son”. Còn lỡ làng, duyên ôi phận ẩm thì: “Bây giờ chồng thấp vợ cao, như đôi đũa lệch so sao cho bằng!” hoặc “Như đôi đũa lệch, như kèo đục vênh!”.
Vì thế, nói đến hạnh phúc, đến tình yêu êm đẹp ở Việt Nam, nữ sĩ Pháp Madeleine Riffaud đã dùng nhiều thành ngữ “Đũa ngọc” (Lesbaguettes de jade) để đặt tên cho một cuốn sách của bà. “Đũa ngọc, mâm vàng”, còn gì hay hơn nữa!
Hoàng Nguyên Kỳ -Trí Thức Trẻ – số 31 – 1998