Monthly Archives: July 2016

Bất cập đào tạo đại học việt nam

Thử tìm một giải pháp khởi đầu cho Việt Nam thành công nhanh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua khai thác đội ngũ trí thức sinh viên: Theo số liệu thống kê, trong khi số sinh viên được đào tạo giảm đi theo động thái phát triển tương đối, thì số sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng không tìm được việc làm ngày càng tăng lên. Chẳng hạn từ năm 1988 đến nay, số sinh viên tốt nghiệp ở 19 Trường đại học khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% lên tới 35%. Cụ thể tỷ lệ sinh viên không tìm thấy được việc làm đúng ngành ở Đại học y khoa là 91,13%, Đại học dược khoa là 83,33%, Đại học tổng hợp là 74,36%, Đại học Sư phạm I là 48,21%. Một số liệu khác cũng đáng suy nghĩ hơn 50% sinh viên chấp nhận có việc làm trái ngành. Rõ ràng là một lượng lớn lao động kỹ thuật cao chưa được tận dụng và quy tụ đúng ngành để tạo ra những giá trị bù đắp lại phần chi phí xã hội đã bỏ ra để đào tạo họ, nói chi đến có những phát minh, sáng kiến có tính đảo lộn. Xét về mặt lo-gich học, sự thiếu đồng bộ trong tất cả các khâu trong quá trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực là một trong những lãng phí lớn nhất trong tất cả các loại lãng phí trong thời đại ngày nay. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng trên chất lượng tuyển sinh còn tùy tiện, chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo còn quá kém, chưa tương xứng với cấp học, đào tạo còn nặng tính lý thuyết, mô phạm, chưa gắn với thực tiễn, ứng dụng điều tra giáo dục học cho thấy trên 50% sinh viên không kịp thích ứng với chính ngành mình được đào tạo, nhiều hệ đào tạo Đại học bán chính quy, phi chính quy tại một số Trường đại học nặng về đáp ứng nhu cầu người học hơn là đào tạo theo các chuẩn mực quy định của một cấp bằng Đại học. Mặt khác, việc sử dụng lao động chưa tương xứng với khả năng tiềm tàng và khả năng phát triển của họ… Chính người sinh viên là nguồn gốc tiềm năng ban đầu, là giải pháp cơ sở xuất phát để có một cơ chế kinh tế phát triển nhanh và vững chắc đối với bất cứ nước nào. Tuy nhiên, thực tế những năm qua còn cho thấy có 3 nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên ở những nước kém phát triển và một số cơ chế quản lý vĩ mô không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế thị trường như Việt Nam, một là chất lượng thật sự của bậc học Đại học chưa bảo đảm, hai là khả năng độc lập nghiên cứu của sinh viên yếu, và ba là, thiếu một cơ chế khuyến khích để khai thác chất xám sinh viên. Bước sang kỷ nguyên mới, thời kỳ mới, thời kỳ của bùng nổ các thông tin, công nghệ, của các giá trị sáng tạo, rõ ràng là các nước kém phát triển nhanh chóng điều chỉnh lại hệ thống quản lý nhất là quản lý đào tạo của mình, mới có cơ may tiếp cận và ứng dụng được các thành tựu tiên tiến nhất mà các nước phát triển đã nghiên cứu thành công. Từ đó mới có thể hòa nhập được về mặt kỹ thuật cũng như mọi lĩnh vực khác của các nền văn minh trên thế giới. Các Trường Đại học chính là nơi cung cấp lớn nhất nguồn nhân lực có trình độ cao cho toàn bộ nền kinh tế. Tình hình đó đáng báo động không những chỉ riêng ngành giáo dục, đào tạo mà về lâu dài, nó còn gây tác hại dây chuyền vô cùng tai hại đối với tất cả các ngành cần nguồn lao động sinh viên. Để góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại nền kinh tế Việt Nam, nên chăng ngay từ bây giờ, một trong những giải pháp quan trọng đáng được tập trung nghiên cứu sâu, là phải nghiên cứu đồng bộ hóa quá trình đào tạo và sử dụng các nguồn nhân lực từ các trường Đại học theo một hệ thống khép kín và thật sự hữu hiệu. Làm thế nào để bước vào đầu thế kỷ XXI, nền giáo dục đào tạo nước ta ít ra cũng có thể hòa nhập được và theo kịp nền giáo dục, các nước như Nhật Bản, Singapore, Malaysia… trong khu vực. Trước hết các trường đại học phải tiêu chuẩn hóa lại toàn bộ quá trình đào tạo từ khâu tuyển sinh đến khâu sinh viên tốt nghiệp và sử dụng tật tốt nguồn nhân lực quý giá này. Cần thiết phải thật nghiêm khắc đối với các hệ đào tạo chính quy. Các hệ không chính quy phải có những quy định về mức, bậc, ngạch đào tạo đúng quy chuẩn đào tạo đại học thống nhất trong toàn quốc. Phải cải tiến nội dung giảng dạy từ việc nghe giảng ở giảng đường, tự nghiên cứu ở các thư viện, phòng thí nghiệm, tiếp cận và đối thoại từ thực tiễn, đến quá trình làm tiểu luận, luận văn, đồ án tốt nghiệp đúng với chuyên ngành và mang sắc thái thành công rõ nét của một phương pháp nghiên cứu tốt đã được trang bị ở Đại học, liên tục cập nhật tri thức mới, có tính ứng dụng thực tiễn cao đối với sinh viên. Điều quan trọng nhất, phải trang bị cho người sinh viên một phương pháp tự nghiên cứu độc lập, tự giác cao, mà không cần phải có sự tác động cưỡng chế từ bất cứ một tác nhân nào, để sau này người sinh viên có khả năng tự giải quyết được bất cứ vấn đề gì do thực tiễn đặt ra thuộc ngành mình đã học ở Đại học. Mặt khác, một cơ chế khuyến học, khuyến tài có tính quốc gia, tức là có sự thống nhất cao giữa Bộ đại học và các Bộ khác được chính phủ quy định phải được tất cả các ngành cùng có trách nhiệm quan tâm và liên tục tạo điều kiện để người sinh viên luôn cảm thấy thỏa mãn xứng đáng với các giá trị khoa học do chính mình tạo ra. Một nền đào tạo đại học tiến bộ là nền tảng vững chắc cho sự nảy sinh các giá trị khoa học tiên tiến. Nếu làm được như vậy, lúc đó mới có thể hy vọng rằng, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa có cơ hội được tiến hành một cách nhanh chóng hơn do chính các mắc xích từ những sinh viên này tạo ra.
Nguyễn Hoàng Dũng- Trí Thức Trẻ – số 33 – tháng 3 – 1998.

Tỷ lệ hoàng kim với sức khỏe

Tỷ lệ hoàng kim do nhà toán học thời cổ Hy Lạp Pitago sinh 582 mất 500 trước Công nguyên phát hiện ra lần đầu tiên vào khoảng 6 thế kỷ trước Công nguyên. Như chúng ta đã biết từ những năm ngồi ghế nhà trường: Trên một đoạn thẳng, nếu lấy hay đánh dấu một điểm, thì điểm đó sẽ chia đoạn thẳng thành hai phần. Tỷ lệ giữa các phần đoạn thẳng sẽ khác nhau, tùy thuộc vào vị trí của điểm đã chọn. Qua quan sát và thực nghiệm, người ta đã phát hiện thấy, có một điểm rất đặc biệt nó chia đoạn thẳng theo một tỷ lệ đẹp, mang lại mỹ cảm cho con người. Điểm đó gọi là điểm vàng và tỷ lệ giữa phần dài và toàn bộ đoạn thẳng gọi là tỷ lệ vàng hay Tỷ lệ hoàng kim. Một tính chất đặc biệt nữa của điểm vàng là nó chia đoạn thẳng ký hiệu là 1 thành hai phần sao cho tỷ lệ của một phần, ký hiệu là X sẽ bằng tỷ lệ giữa phần còn lại bằng “1 – x” với chính nó là x/1 bằng (1 – x)/x. Trị số cụ thể của tỷ lệ vàng là 0,618 do nhà toán học Ý ông Phibonasi, tìm ra năm 1228 khi nghiên cứu về các chuỗi số. Từ thời cổ Hy Lạp, người ta đã biết rõ giá trị thẩm mỹ của Tỷ lệ hoàng kim. Thời kỳ phục hưng, các họa sĩ thường gọi là Tỷ lệ hoàng kim là tỷ lệ thần thánh. Các quan sát về mỹ học cho thấy, những dụng cụ sinh hoạt hàng ngày, như một chiếc bàn, một khung ảnh, chiếc phong bì, con tem… có tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng bằng khoảng 0,618 sẽ tạo nên cảm giác hài hòa và đẹp đẽ thí dụ dài 100 cm rộng là 62 cm, dài 120 cm rộng là 74 cm… Từ thời cổ Hy Lạp, Tỷ lệ hoàng kim được ứng dụng rộng rãi trong kiến thức, mỹ thuật, hội họa, điêu khắc. Ngay những người thợ mộc từ xưa cũng đã biết vận dụng tỷ lệ vàng để tạo ra những mặt hàng phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ, được khách hàng ưa chuộng.
Những điểm vàng trên cơ thể con người.
Tỷ lệ hoàng kim còn hiện diện ngay chính trên cơ thể con người. Ngay từ thời Trung thế kỷ, Phibonasi đã phát hiện thấy, một số điểm đặc biệt trên cơ thể người chia cơ thể theo tỷ lệ vàng hoặc khá gần với tỷ lệ lý tưởng đó. Ví dụ rốn là một điểm vàng rất là đặc biệt trên cơ thể. Nếu như một người có chiều cao là 1,628 mét, khoảng cách từ đỉnh đầu đến rốn bằng 0,612 mét và từ rốn đến bàn chân bằng 1 mét, thì đó sẽ là một người có thân hình lý tưởng, phần trên và phần dưới tương xứng theo một tỷ lệ vàng. Rốn không chỉ là điểm vàng về phương diện thẩm mỹ, nó còn là một huyệt vị đặc biệt mà các thầy thuốc phương Đông xưa, thường sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh tật. Từ Hy Thái Hậu đã được các thầy thuốc chữa khỏi nhiều chứng bệnh nhờ những chiếc gối thuốc nhỏ đặt trên rốn. Các chữa bệnh bằng cách đắp thuốc lên rốn cũng rất là phổ biến trong dân gian. Trên cơ thể con người còn rất nhiều điểm vàng khác, chẳng hạn yết hầu, khủy tay, đầu gối cũng là những điểm chia các phần cơ thể theo Tỷ lệ hoàng kim. Một số chức năng sinh lý của cơ thể cũng tuân theo Tỷ lệ hoàng kim. Cơ thể con người ta cảm thấy dễ chịu nhất, khi nhiệt độ không khí bằng khoảng 23 độ C, là vì 23 độ chia nhiệt độ của cơ thể theo Tỷ lệ hoàng kim là 23 bằng 37 x 0,618. Các nhà khoa học còn phát hiện thấy khi tinh thần sảng khoái, tỷ số giữa tần số tối thiểu là 8 héc và tần số tối đa của điện não là 12,9 héc cũng có trị số bằng Tỷ lệ hoàng kim. Điều đặc biệt hơn nữa là khi nghiên cứu về “Hệ thống kinh lạc trong y học phương Đông các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy những huyệt quan trọng nhất trên đường kinh lạc đều là những điểm vàng. Theo quan niệm về Tam Tài – Thiên Địa Nhân trong Đông y học các huyệt bách hội, dũng tuyền và lao cung là những cửa ngõ tương ứng với thiên khí, địa khí, và nhân khí. Huyệt bách hội ở chính đỉnh đầu, nằm trên Đốc mạch, chia khoảng cách chân tóc trước trán đến sau gáy theo tỷ lệ là 0,168. Huyệt dũng tuyền thuộc “Thận kinh”, nằm ở gan bàn chân, chia bàn chân theo tỷ lệ là 0,168. Còn huyệt “lao cung” thuộc “Tâm bào kinh”, nằm trong lòng bàn tay, cũng chia bàn tay theo tỷ lệ là 0,168. Một số huyệt quan trọng khác như thần khuyết, đản trung, quan nguyên, ấn đường… cũng đều tương ứng với các điểm vàng trên cơ thể. Huyệt thần khuyết nằm ở rốn một điểm vàng như đã nói ở trên. Huyệt đản trung chia khoảng cách từ đỉnh đầu tới rốn, huyệt quan nguyên chia khoảng cách từ rốn đến xương mu theo Tỷ lệ hoàng kim… Những huyệt vàng đó cũng chính là những huyệt quan trọng nhất được ứng dụng nhiều nhất trong Đông y học. Ngoài các huyệt vị và những điểm vàng trên bề mặt cơ thể, các nghiên cứu còn phát hiện thấy, nhiều tổ chức và cơ quan nội tạng bên trong cơ thể cũng có cấu tạo tuân theo quy luật vàng. Và những điểm vàng kể trên đều có các vai trò hết sức quan trọng đối với các hoạt động sinh lý của cơ thể.
Tất Hùng- Trí Thức Trẻ – số 32 – tháng 2 – 1998.

Nâng cấp bộ phận khó nói

Lâu nay, trên một số phương tiện thông tin đại chúng, hay qua các nguồn thạo tin vỉa hè, người ta đề cập đến chuyện một số tay ăn chơi, thường đua đòi mua trinh tiết các thiếu nữ với giá khá cao. Thế là xuất hiện dịch vụ đáp ứng nhu cầu này do một số “Tú ông, Tú bà” đảm nhiệm. Thế là có tin một số cô ca-ve nhờ bác sĩ ngoại khoa can thiệp để tái tạo màng trinh. Nghe giật gân quá. Nhưng mà nhiều người tin. Bởi trình độ y học ngày nay ở nước ta, người ta còn đưa ngón chân lên thay thế ngón tay, hoặc tạo hẳn một dương vật mới cho những anh chẳng may bị mất còn được nữa là cái màng trinh. Vậy, thực hư thế nào? Mới đây, tôi đã có cuộc tiếp xúc với phó tiến sĩ Dương Quốc Trọng, Phó chủ nhiệm Khoa phụ sản bệnh viện trung ương quân đội 108. Anh là một trong những nhà phẫu thuật có uy tín của ngành sản phụ khoa nước ta. Anh nói: Ở chỗ tôi, chưa từng nghĩ tới chuyện tái tạo màng trinh, nói gì tới làm: Và tôi cũng tin rằng ở nước ta, chưa có cơ sở y học nào làm chuyện này. Bởi vì xét trên cơ sở giải phẫu, thì màng trinh không tham gia vào việc tạo nên khoái cảm trong quan hệ nam – nữ. Vậy sao lâu nay, một số người đã bỏ ra bạc triệu chỉ để mua cái đó? Họ nhầm! hay nói cách khác, họ đã vung tiền để mua cái chỉ có giá trị yếu tố tâm lý. Nếu không phải màng trinh, thì bộ phận nào là cơ quan chủ yếu tạo nên khoái cảm? Anh hỏi thế, thì trên cơ sở khoa học, đứng về mặt giải phẫu, tôi xin trả lời một cách vắn tắt rằng để tạo nên sự khoái cảm thì phải có sự tham gia tổng hợp của nhiều bộ phận, nhiều yếu tố. Trong đó, không thể thiếu một tình yêu đích thực. Còn nói về mặt cơ thể thì cũng có nhiều cơ quan tham gia, cụ thể ở cơ quan sinh dục thì chính là các cơ tròn ở vị trí đầu âm đạo. Nếu vậy, thì chính các nhà phẫu thuật có thể giúp cho chị em cải tạo các cơ tròn đó, khi nó xuống cấp? Chỉ định phẫu thuật này ở các nước châu u và châu Mỹ đã được tiến hành từ nhiều năm nay. Và trên thực tế, sau phẫu thuật, quan hệ vợ chồng đã được nâng cấp một cách rõ rệt. Ở nước ta thì sao, thưa anh? Ở chỗ chúng tôi, đã tiến hành phẫu thuật một số ca như vậy. Sau mổ một thời gian, tôi kiểm tra lại, hầu hết chị em đều cho rằng đạt kết quả đẹp so với khi chưa phẫu thuật. Nhưng, trong trường hợp nào thì được coi là cần phải phẫu thuật. Nhìn chung, khi người phụ nữ cảm thấy âm đạo rộng tới mức mà trong quan hệ vợ chồng không đạt được khoái cảm cần thiết, thì nên tìm đến bệnh viện chuyên khoa phụ sản, hoặc những bệnh viện đa khoa có chuyên khoa phụ sản. Qua thăm khám, thầy thuốc sẽ có lời khuyên thích hợp với từng trường hợp cụ thể. Thế là rõ, không thể có chuyện tái tạo màng trinh như lời đồn đại lâu nay. Nhưng trình độ, y học nước ta hiện nay vẫn có thể giúp chị em nâng cấp một số bộ phận của cơ thể theo yêu cầu chính đáng của mình, làm cho cuộc sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn. (Tháng 12 năm 1997)
Nguyễn Bá Cổn- Trí Thức Trẻ – số 32 – tháng 2 – 1998.

Vật chất từ ánh sáng

Lần đầu tiên trên thế giới, tập thể các nhà vật lý Mỹ đã thành công trong nỗ lực tạo vật chất từ ánh sáng ngay từ đầu thế kỷ, nhà bác học thiên tài Anh – Xtanh đã chứng minh rằng, vật chất là trạng thái tập trung của năng lượng. Nó có thể được giải phóng trong những điều kiện nhất định. Những vụ nổ bom nguyên tử hoặc phản ứng hạt nhân bên trong các vì sao là thí dụ điển hình của hiện trường. Bản thân ánh áng là năng lượng. Những thành phần nhỏ nhất của ánh sáng mang tên Foton không có trọng lượng. Chúng chuyển động trong khoảng không với tốc độ lớn nhất mà tự nhiên có thể cho phép với 3 trăm nghìn km trong một giây. Chúng không thể tồn tại trong trạng thái tĩnh. Từ những thành phần năng lượng sạch chuyển động với tốc độ như thế có thể tách rời những nguyên tố vật chất, thí dụ như elektron có mặt trong các nguyên tử tạo thành tất cả những đồ vật và cơ thể sống? Thông tin về thí nghiệm này, tuần báo khoa học có uy tín “Science” viết về bài với tựa đề: “Sự nhào nặn vật chất từ ánh sáng”. Loại vật chất đầu tiên được chào nặn từ ánh sáng được thực hiện trong thiết bị đặc biệt có chức năng gom nhặt nguyên tố tại trung tâm nghiên cứu khoa học ở Stanford. Dải ánh sáng lade va đập với dòng elektron năng lượng cao. Foton sau hậu quả đối mặt với những elektron bị xua đuổi, tiếp nhận thêm lượng năng lượng mới, để rồi dẫn đến sự biến đổi ánh sáng nhìn thấy được thành nguồn phóng xạ năng lượng cao gama. Sự va đập tiếp theo, thí dụ với đồng thời 4 Foton lade, đã huy động được lượng năng lượng vừa đủ để từ ánh sáng có thể tạo ra cặp nguyên tố: elektron vật chất và phản vật chất Poziton. Tại Stanford Linear Accelerotor Center, người ta tin chắc rằng trong thí nghiệm đó, họ đã tạo được vật chất từ sự biến đổi năng lượng. Những thí nghiệm khác chỉ ra rằng, hai Foton giống hệt nhau được phóng đi theo chiều ngược lại, sẽ tự thỏa thuận với nhau và thống nhất cách cư xử của mình. Mối quan hệ này xuất hiện tức thì, không phụ thuộc vào khoảng cách giữa chúng với nhau. Sự tranh cãi về trạng thái của các Foton giữa những người sùng bài lý thuyết tương đối của Anh – Xtanh và phái cơ học lượng tử diễn ra đã vài ba chục năm. Những tác giả của lý thuyết lượng tử ngay trong những năm 20 của thế kỷ này đã khẳng định rằng, hai Foton, tức các lượng tử ánh sáng có thể ngay lập tức liên hệ với nhau, bất kể khoảng cách. Điều đó phủ nhận cấu trúc của lý thuyết tương đối, theo đó khẳng định rằng, trong tự nhiên, không có vận tốc lớn hơn 300 km trong một giây. Trong khu vực gần với giới hạn tốc độ này, trọng lượng của vật thể đang chuyển động sẽ tăng lên vô giới hạn, vậy không có gì có thể tạo cho nó có tốc độ cao hơn độ dài của vật thể như thể nhỏ lại theo chiều chuyển động đến Zero, còn thời gian tự dừng lại. Vậy nên, theo Anh – Xtanh việc liên lạc lập tức bất kể cự ly là điều không thể. Trái lại cơ học lượng tử đã tiên đoán điều đó, mô tả một cách tường tận diễn biến đó trong thế giới vi mô, song lại mâu thuẫn với trật tự thông thường. Các tác giả lý thuyết lượng tử trả lời rằng nếu như nó cưỡng ép cảm giác lương thiện thì chỉ bởi vì tự nhiên tỏ ra không mấy quan tâm đến trật tự thế giới này. Chỉ duy nhất toán học cho phép mô tả chính xác thế giới đúng với lý thuyết trên, trái lại những nỗ lực thể hiện bằng ngôn ngữ thường nhật lại dẫn đến những điều phi lý. Mặc dầu vậy nhớ lại thể hiện rất tuyệt vời trong thực tế. Tất cả các thiết bị điện tử truyền hình, computer, radio, và thậm chí các nguyên tử của thân thể chúng ta cũng hoạt động một cách hài hòa chính nhờ vào sự phi lý lượng tử. Theo lý thuyết lượng tử, những hạt cơ bản cả Foton hay elektron đều không có đầy đủ tính chất vật lý. Sự lựa chọn tính chất của chúng mãi đến thực hiện đo đếm mới quyết định được. Trong trường hợp hai hạt như nhau, được tạo nên trong cùng một thời điểm, số đo kích cỡ của một hạt tập tức khẳng định tính chất tương tự của hạt thứ hai này nằm ở một nơi nào đó rất xa. Dường như vậy lý lượng tử đã mô tả đúng quy luật của thế giới vi mô. Nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Tổng hợp Gio-ne-vo, tận dụng sự giúp đỡ của Swiss Telecom, đã thực hiện thí nghiệm phóng cặp Foton bằng cáp quang, một điều khiển đi phương Bắc, Foton thứ hai theo phương Nam, tính từ Gio-ne-vơ. Khi hai hạt nằm ở khoảng cách trên 10 km, chúng buộc phải tự chọn con đường ngắn hơn hoặc dài hơn chút ít. Và lần nào cũng thế, tất cả các cặp Foton đều xử sự y hệt. Kết quả thí nghiệm được thực hiện ở Gio-ne-vo có thể ứng dụng trong ngành thông tin hiện đại. Thế nên ngay bây giờ tập đoàn Swiss Telecom đã quan tâm đến vấn đề này. Nếu như trong thực tế chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa các cặp hạt Foton được duy trì ở khoảng cách lớn hơn thì hiện tượng này sẽ được ứng dụng thí dụ trong kỹ thuật chuyển những thông tin bí mật bằng cáp quang. Tiến sĩ Nicolas Gisin khẳng định. (Theo chính diện số 216/98).
Nguyệt Minh- Trí Thức Trẻ – số 32 – tháng 2 – 1998.

Gặp giám đốc trị rắn độc

Trung tâm nuôi trồng nghiên cứu chế biến dược phẩm Quân khu 9 tên “cúng cơm” là Trại nuôi rắn Đồng Tâm, nổi tiếng cả nước về nuôi, khai thác các loại rắn độc và trị rắn độc cắn. 20 năm qua Trung tâm đã chữa trị cho hơn 10 nghìn người. Tháng 10 năm 1997, Thượng tá, dược sĩ, giám đốc trung tâm Nguyễn Danh Sinh tham dự “Hội thảo thế giới về rắn độc cắn lần thứ nhất” tại Quảng Châu của Trung Quốc, với bản báo cáo khoa học được đánh giá rất cao. Anh Nguyễn Danh Sinh cho biết: Báo cáo khoa học của chúng tôi được nghiên cứu từ thực tiễn nuôi các loại rắn độc, cứu chữa người bị rắn cắn bao gồm nghiên cứu tác hại của các loại nọc độc của rắn đối với cơ thể con người, bào chế thuốc đặc trị và xây dựng phác đồ cấp cứu điều trị. Thời gian nghiên cứu từ năm 1992 đến năm 1997. Thời gian trên chúng tôi tiếp nhận điều trị 3.147 người bị rắn cắn từ khắp các
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ, trong đó có 1.888 người bị rắn độc cắn. Rắn không độc cắn thì chỉ điều trị chống nhiễm trùng, còn rắn độc cắn thì phải điều trị rất phức tạp. Số bị rắn độc cắn đã điều trị khỏi hoàn toàn với 1.839 người chiếm 97%, chuyển về tuyến sau đề hồi sức hoặc điều trị di chứng là 9 người chiếm 0.48% và có 40 người bị tử vong chiếm 2,1%. Tại hội thảo, có 1 báo cáo của 1 cơ sở điều trị rắn độc cắn ở Trung Quốc: điều trị 40 người và tử vong tới 35 người chiếm gần tới 90%. Các đại biểu nữ lên báo cáo và khóc nức nở, bà kêu gọi thế giới quan tâm đến mối nguy hiểm cực kỳ với con người này, hàng năm đang giết chết nhiều người, bởi vậy thành công của chúng tôi được đánh giá cao.
Phóng viên: nguyên nhân nào dẫn đến vẫn còn 40 người tử vong khi bị rắn cắn đến điều trị ở trung tâm?
Nguyễn Danh Sinh: Phần lớn do đến quá muộn và cấp cứu ban đầu đặt ga rô không đúng quy cách. Trong điều trị rắn độc cắn, kết quả phụ thuộc vào thời gian đưa đi cấp cứu được. Trong số bệnh nhân đến Trung tâm sau khi bị rắn độc cắn chỉ có 40,5% đến trước 1 giờ, 56,5% đến trong khoảng từ 1 giờ đến 12 giờ và có 3% đến sau 12 giờ. 1.888 người có đặt ga rô sau khi bị rắn cắn thì 1.123 người chiếm 57% đặt không đạt yêu cầu. Dân gian có quan niệm sai lầm là nếu rắn độc cắn thì vết thương không chảy máu. Hoàn toàn không phải như vậy. Rắn độc cắn thì cũng có thể chảy máu và còn chảy nhiều máu nếu con rắn lớn vết thương, vết thương sâu. 60% người bị rắn cắn đến Trung tâm là bị rắn độc cắn, trong đó có 52% bị rắn lục cắn 8% bị rắn hổ và rắn Mai gầm cắn. Cho nên, khi bị rắn cắn không thể xem thường.
Phóng viên: Không xem thường thì người bị rắn cắn có thể làm gì?
Nguyễn Danh Sinh: Phải khẩn cấp tự sơ cứu. Rắn độc cắn gây nhiễm độc thần kinh và máu, diễn biến rất nhanh. Khi bị rắn cắn phải nhanh chóng buộc ga-ro nơi vào có thể ở phía trên vết rắn cắn từ 3 cm đến 5 cm. Ga-rô triệt để như ga-rô ngoại khoa bằng mọi thứ dây có tại chỗ như dây thun, dây chuối, quai nón… Rửa sạch vết thương bằng mọi thứ nước có được: Nước ao hồ, mương rạch, nước chanh, nước xà phòng, thậm chí nước tiểu hoặc nhai những lá cây chua, chát lấy nước rửa còn bã đắp vào vết thương. Sau đó khẩn trương đưa đến cơ sở y tế. Khi chưa uống thuốc tuyệt đối không mở ga-rô.
Phóng viên: Rắn độc cắn có thể uống thuốc gì?
Nguyễn Danh Sinh: Có mấy bài thuốc cổ truyền.
Bài 1: Là Kim ngân vàng (cả đọt) 20 gram, phèn phi 5 gram, giã nhỏ lấy nước uống, xác đắp vết thương.
Bài 2: Trứng kiến vàng và con kiến vàng khoảng 1 chén ăn cơm, giã lấy nước uống, xác đắp lên vết thương. Cứ 20 phút đến 30 phút uống 1 lần. Nếu bệnh nhân tăng nhiều đờm dãi thì rể đu đủ cái 100 gram, củ sả 50 gram giã nhỏ vắt nước uống mỗi lần 3 đến 5 giọt, cứ 15 phút đến 20 phút uống một lần đến hết trào đờm mới thôi.
Phóng viên: Nhìn vết rắn cắn có thể xác định được là rắn độc hay không rắn độc không?
Nguyễn Danh Sinh: Được rắn độc có 2 răng độc gọi là răng khóa, khi cắn thường mổ xuống và có thể mổ 2 phát liên tiếp. Bởi vậy vết rắn cắn có từ 1 đến 4 dấu răng, vết cắn sẽ có nhiều dấu răng, hình vòng cung, lắm lúc còn gãy răng dính vào vết thương.
Phóng viên: Rắn hay cắn người vào thời điểm nào, ở đâu và tại vị trí nào của cơ thể?
Nguyễn Danh Sinh: Với tỷ lệ 68% bệnh nhân của chúng tôi bị rắn cắn từ 16 giờ đến 24 giờ trong ngày, lúc chập tối nhiều hơn về khuya. 71,1% bị rắn cắn ở ruộng và trên đường đi. Có 3 trường hợp bị rắn cắn khi đi xe đạp, 346 trường hợp bị rắn cắn ở trong nhà.76,95 bị rắn cắn vào chi dưới.
Phóng viên: Trung tâm không phải là cơ sở điều trị nhưng lại cứu được số lượng bệnh nhân không nhỏ trong chứng bệnh cực kỳ nguy hiểm mà nếu không chữa thì dứt khoát sẽ chết. Các anh có gặp khó khăn gì?
Nguyễn Danh Sinh: Xin cảm ơn nhà báo chia sẻ vấn đề này, vấn đề chưa có lối ra của chúng tôi. Qủa thật chúng tôi không được cấp kinh phí điều trị nhưng nhân dân tin tưởng chúng tôi nên tìm đến. Nhiều người bỏ các cơ sở y tế khác để đến. Chúng tôi không thể từ chối, phải gồng mình lên nhưng gồng mãi e khó nổi.
Sáu Nghệ-Trí Thức Trẻ – số 32 – tháng 2 – 1998.

Các cuộc hôn nhân của thái tổ lê lợi

Hai dòng họ lớn Lê – Trịnh ở Thanh Hóa nhiều đời gắn liền với nhau, hẳn một phần cũng góp vào cái thế “Lê tồn Trịnh tại” về sau. Mở đầu ta thấy nói đến Lê Lợi, vị hoàng đế khai sáng nhà hậu Lê. Lặp lại cha mẹ, Lê Lợi cũng lấy người con gái họ Trịnh và cùng với đệm tên là Ngọc. Đó là Trịnh Thị Ngọc Lữ. Nhưng lần này lặp lại ở mức cao hơn vì vừa được sự sắp đặt của cha mẹ như cũ, lại vừa là tình yêu của đôi lứa. Ngọc Lữ nhớ mãi ngày cha mình dẫn về nhà một thanh niên dung nhan tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng mồm rộng, bước đi oai vệ như rồng như hổ đã bắn chết con hổ xám cứu ông trong một buổi đi săn. Điều đáng mừng nhất là thanh niên đó lại là người mà ông đã cùng Lê Khoáng sắp xếp cho đính ước với Ngọc Lữ từ trước. Bẵng đi mấy năm, chàng bận đi tập hợp bè bạn, nghiên cứu binh pháp rồi lạc vào khoảng rừng họ Trinh đi săn mà gặp lại. Tuy là đính ước nhưng theo tục của cha mẹ đặt ngoài ý con ngày xưa nên giờ đây là người thân mà vẫn ban đầu gặp gỡ cũng không lạ. Ban đầu bốn mắt đăm đắm nhìn nhau mà hai lòng đều mừng thầm: trời xanh thật khéo run rủi, các bậc cha mẹ thật có con mắt tinh đời… Lê Lợi không cần bàn, sử dụng đã ca ngợi nhiều. Còn Ngọc Lữ thật xứng đáng với tên đệm là Ngọc, một viên ngọc rực rỡ không cần trang điểm vẫn nổi bật lên từ nơi đồng nội núi rừng xanh tươi của trang Bái Đê, huyện Lôi Dương, Thanh Hóa. Cho nên, dù gái hơn trai ba tuổi mà gái vẫn làm cho trái tim người anh hùng thật sự rung động. Sau đó là đám cưới của hai người phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng vào năm 1401, lúc Ngọc Lữ 19 tuổi, sinh ra một trai là Lê Tư Tề và một gái là Lê Tần Tố Nữ hiệu Đào Nữ theo truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết dân gian cho rằng: Trời đã mượn tay người vợ tấm cám ấy để trao thiên mệnh cứu nước cứu dân, lên ngôi hoàng đế cho Lê Lợi. Bởi chỉ có tấm thân ngọc nữ giáng trần cao quý đặc biệt đó mới xứng đáng làm môi giới giữa thiên đình với người anh hùng có chân mệnh thiên tứ. Cụ thể là người phường chài ở sách Mục Sơn bắt được lưỡi kiếm báu có khắc dòng chữ triện dâng cho Lê Lợi, nhưng chuôi thì chính Ngọc Lữ với cặp mắt tinh anh đã phát hiện từ gốc đa có ánh sáng. Bà thấy rõ chuôi kiếm khắc hình con rồng hổ với hai chữ là Thanh Thúy hợp với biệt hiệu của mình là Thanh Giang. Ngọc Lữ còn bắt được quả ấn báu khi ra vườn và bốn chữ Thuận Thiên Lê Lợi. Bằng đầu óc thông tuệ bà đã góp phần cùng Lê Lợi giải thích trọn vẹn bài chú truyền ý của trời cho Lê Lợi. Sau đó là những ngày chuẩn bị khởi nghĩa. Trịnh Thị Ngọc Lữ là trợ thủ đắc lực nhất của Lê Lợi trong việc tích trữ lương thảo vá may quân phục, động viên tướng sĩ. Khi khởi nghĩa, bà giữ trọng trách hậu cần, tổ chức đời sống bảo vệ hoặc sơ tán quyến tướng sĩ. Đáng tiếc công việc chưa đi đến đâu thì Ngọc Lữ đã hi sinh. Theo Lê triều thông sử của Lê Qúy Đôn cho rằng bà mất vào năm Thái Hòa khoảng năm 1443 – 1453 đời Lê Nhân Tông. Điều đó không đúng. Phải chăng năm 1438 Lê Tư Tề bị em ruột là Thái Tông hoàng đế ghen tị, sợ ảnh hưởng đến ngai vàng đã dựng án để cách tuột anh xuống làm thường dân… Con còn thế liệu mẹ có thể được yên không? Thật ra, vào một đêm ngày 16 tháng 4 năm Mậu Tuất năm 1418 tên Việt gian là Ái, phụ đạo trại Nguyệt Ấn dẫn quân Minh tắt lẻn đánh úp vào hậu cứ quân ta, bắt được hàng loạt gia quyến tướng sĩ trong đó có Trịnh Ngọc Lữ. Để chống lại âm mưu của nhà Minh định dùng mình là vật nhằm yêu sách của Lê Lợi, đưa vị thủ lĩnh Lam Sơn vào tròng và để bảo toàn danh tiết, ngày 9 tháng 5 năm 1418, Ngọc Lữ đã tuẫn tiễn. Đúng như dân gian đã truyền lại lời trăng trối của bà:
Ta là lệnh nữ
Khi ta về trời
Không hòn tên mà chẳng mũi đạn
Không có gươm đao của quỹ dữ ở đời
Chỉ cần một chén rượu thôi.
Hồn ta thoát xác về trời….
Sau hôn nhân ở Thanh Hóa đó là hôn nhân ở Nghệ An, khi nghĩa quân Lam Sơn mở rộng hoạt động vào xứ Nghệ theo lời bàn của tướng Nguyễn Chích. Lê Lợi sai các tướng Đinh Lễ, Bùi Bị liên lạc với trang Phụng Công, một trang trại rộng lớn với những lực lượng chống Minh của hoàng hậu Bạch Ngọc, vợ thứ ba vua Trần Duệ Tôn từ năm 1372 đến năm 1377 đang ẩn náu ở lưu vực sông sâu. Để tranh thủ các lực lượng chống Minh còn sót lại từ thời hậu Trần ở Nghệ An, do sự mối lái của Bùi Bị, Lê Lợi đã cưới công chúa Huy Chân tức là Ngọc Hiền, con gái bà Bạch Ngọc làm thứ phi. Hôn nhân ấy đã sinh ra công chúa Ngọc Châu tức là Trang Từ. Sau này Trang Từ lớn lên kết hôn với Bùi Ban, còn Bùi Bị để đáp lại công lao họ Bùi đã làm ông tư cho vua ngày trước. Nhờ có mối duyên đẹp ấy, Lê Lợi có thể lấy trang Phụng Công làm căn cứ hậu cần để sử dụng một cách an toàn kín đáo toàn bộ khu vực từ bến đò Linh Cảm ngày nay cho đến phía chùa Am, nơi giao lưu đi Lào, đi đèo Ngang, đi núi Thành, Cửa Hội, chuẩn bị nhỏ thành Rum thành Nghệ An hay Lam Thành. Trên bờ sông Cả, ở xã Triều Khẩu, phía Nam thành Rum có ngôi đền thờ thần Cá Qủa nổi tiếng linh thiêng. Khúc sông ở đây sống to gió lớn thuyền bè qua lại thường bị lật úp. Người ta đồn rằng thuyền lật vì không giết sinh vật để cúng thần. Đúng lúc nghĩa quân đang chuẩn bị phản công khắp các mặt trận, một cánh tiến vào giải phóng Tân Bình – Thuận Hóa, một cánh tiến ra bao vây thành Diễn Châu và Tây Đô, làm bàn đạp tiến ra Bắc bao vây Đông Quan thì có tin vào tháng 4 năm 1424 bọn tham tướng nhà Minh là Lý An sắp dẫn một cánh quân vào giải vây Nghệ An.
PTS Đinh Công Vĩ- Trí Thức Trẻ – số 31 – tháng 1 – 1998.

Quả bom nổ chậm trong máu

Một thiếu sót trong gen có thể dẫn đến chứng nghẽn mạch và ngắt mạch phổi. Kỹ thuật thử nghiệm gene với phí tổn vừa phải có thể giúp người ta hạ thấp độ nguy hiểm xuống. Ở một số bệnh nhân, thảm họa được báo trước bằng cảm giác chóng mặt và những trận ho dữ dội. Ở những người khác, điều tệ hại sẽ ập đến một cách bất ngờ. Song trong trường hợp nào cũng vậy, đó đều là những cuộc tấn công quyết định giữa cái sống và cái chết. Hằng năm riêng tại nước Đức, đã có từ 30 nghìn cho đến 40 nghìn người chết vì chứng tắc mạch phổi. Một số người qua đời nhanh tới nỗi những người thân và các bác sĩ hầu như không giúp đỡ được gì: “Bệnh nhân đột nhiên ngã gục xuống”, nhà phẫu thuật Sylvia Haas xứ Munich nói và chúng tôi không thể làm cho họ tỉnh lại được”. Nguyên nhân gây ra cái chết chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, một cái chết giáng xuống từ trên trời như một tia sét và hình như kéo đi cả những người hết sức khỏe mạnh, là những cục máu ở đùi trên và vùng ngang hông. Những tảng máu đông nhiều khi độ dày tới 2 cm và thường là nhiều cm có thể đột ngột chỉ trong vòng một giây đồng hồ rời khỏi thành mạch máu và bắt đầu dịch chuyển. Theo dòng máu chảy, chúng sẽ qua tiền trạm bên phải cũng như ngăn tim bên phải vào trong khu vực phổi, nơi chúng có thể đột ngột làm tắc một đoạn động mạch chính dòng máu chảy về cơ quan hô hấp qua đó bị chặn lại, trái tim còn chiến đấu một hồi chống lại sự tắc nghẽn và lực ép mỗi lúc một tăng hơn chiến đấu một cách uổng công, rồi gục ngã. Trong rất nhiều trường hợp, chỉ khi mổ xác, các bác sĩ mới phát hiện ra con giun bằng máu dài loằng ngoằng, đã chui vào động mạch phổi như một viên đạn. Một cuộc sống thiếu hoạt động chân tay, những vụ phẫu thuật, những vụ nhiễm trùng hoặc kể cả những tế bào ung bướu bị cuốn đi theo đường máu chảy, theo sự hiểu biết của các nhà y học cho tới nay, là những nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến sự đông đặc máu hiểm độc này. Lỗi lầm về thông tin di truyền quan trọng nhất dẫn tới chứng tắc mạch và rình mò trong các mạch máu như một quả bom nổ chậm, được gọi là đột biến gen yếu tố V nó mới được các nhà y học xứ Thụy Điển của Trường Đại học Tổng hợp Lund tìm ra cách đây năm. Ở những người có đột biến gen yếu tố Vittorio, acid amin Arginin trong các protein sẽ được thay thế bằng Glutamin. Trạng thái cân bằng của hệ thống đông máu bị phá hủy qua việc thay đổi này, những phân tử yếu tố V chịu trách nhiệm cho việc đông máu sẽ không còn bị những đối thủ của chúng phanh hãm lại nữa quá trình đông máu trở thành một yếu tố độc lập. những người bị đột biến Gen bẩm sinh qua đó sẽ gặp mối nguy hiểm, rằng những cục máu giết chóc sẽ lên đường di chuyển trong những mạch máu ở phần dưới của cơ thể. Khoảng 4% cho tới 5% người Đức gặp phải sự hỏng hóc về gen này. Họ có xác suất mắc bệnh nghẽn mạch hoặc tắc mạch phổi cao gấp 8 lần những người bình thường. Hiện tượng đột biến gen yếu tố V đã được các nhà y học tìm thấy trong 20% cho tới 40% tất cả các trường hợp mắc bệnh nghẽn mạch. Cả số các bệnh nhân của bệnh tắc mạch phổi cũng có một xác suất đột biến Gen rất cao. Theo giám đốc Heinrich Schulte của Viện nghiên cứu Hormone và di truyền trường Đại học Tổng hợp Hamburg, trong cơ thể là 40% các bệnh nhân mắc bệnh tắc mạch phổi đã được điều trị ở khoa cấp cứu, chúng tôi đã tìm thấy sự thay đổi thông tin di truyền đó. Mối nghi ngờ về những yếu tố mang tính di truyền càng tăng lên, khi sự đông máu xuất hiện từ những năm bệnh nhân còn rất trẻ: “Gần một nửa tất cả các bệnh nhân”, mắc bệnh tắc mạch trước tuổi 45 theo ước đoán của các nhà khoa học người Mỹ, sẽ có một khiếm khuyết về gen. Mặc dù nhìn toàn diện, xác suất nguy hiểm tuyệt đối để trở thành một nạn nhân của bệnh tắc mạch chỉ là khoảng 1%. Song một số lượng rất nhiều các yếu tố cùng nhau gây ảnh hưởng ví dụ như một cuộc sống thiếu hoạt động tay chân, nhiều loại thuốc khác nhau, những lỗi di truyền, trạng thái mang thai, tuổi tác, hoặc những loại thuốc rút nước trong cơ thể, có thể đẩy xác suất của hiểm nguy toàn cục trong những trường hợp riêng lẻ lên rất cao. Schulte: Chúng ta phải xuất phát từ quan điểm rằng những nỗi hiểm nguy riêng tư sẽ được kết hợp với nhau theo hệ số nhân. Những người đàn bà ngừa thai bằng thuốc, sẽ có một xác suất mắc bệnh tắc mạch lớn hơn những người khác gấp nhiều lần. Đối với những người còn mang thêm đột biến gen yếu tố V, nỗi hiểm, nguy do những viên thuốc ngừa thai mang lại sẽ tăng vọt lên gấp 30 lần so với những người khác. Đây là điều các đã được các nhà y học Phần Lan của Trường Đại học Tổng hợp Leiden mới chứng minh cách đây không lâu. Ngoài ra, với mỗi vụ thử nghiệm về Gen, người ta cũng đồng thời làm tăng mối nguy hiểm rằng các hãng bảo hiểm cùng các ông chủ sẽ có thể lợi dụng những kết quả này một cách không có lợi ích cho những người thử nghiệm. Họ lập luận rằng, chỉ một thiểu số những người được kết quả dương tính sau thử nghiệm mới thực sự mắc bệnh nghẽn mạch hoặc tắc động mạch phổi. Cả những người nghiện thuốc lá và những người mắc bệnh béo phì, nơi các bác sĩ đã nghi ngờ có một sự hỏng hóc về gene, cũng có xác suất mắc bệnh tắc mạch và tắc mạch phổi cao hơn hẳn. Ngược lại những nỗi e ngại bấy lâu nay, cho rằng những người có đột biến gen sẽ dễ gặp những cơn đau tim hoặc thực tế chứng minh. Theo ước tính của nhà y học thí nghiệm người Thụy Điển Bjoern Dahlbaeck, 1 phần 10 dân số Châu u đã mang trong mình đột biến gen yếu tố V, tại Thủy Điển và đảo Ship cả hai loại acid amin thậm chí đã bị thay đổi ở 12% tổng số dân chúng. (Theo Der Spiegel)
Khanh Khanh- Trí Thức Trẻ – số 31 – tháng 1 – 1998.

Alexandrie đô thị cổ dưới biển

Alexandrie một thành phố huyền thoại nằm dưới đáy biển, với ngọn hải đăng đầu tiên, một trong bảy kỳ quan thế giới và cung điện, nơi hoàng hậu Cleopatre đã quyến rũ Cesar, rồi yêu Marc Antoine. Đã ba năm nay, hai nhà khảo cổ người Pháp, là Jean Yves Empereur et Franck Goddio cùng với một nhóm những chuyên gia lặn Ai Cập và Pháp, đang tìm tòi bí ẩn của vịnh Alexandrie. Họ khẳng định đã trông thấy, sờ thấy và chụp ảnh những di tích còn lại của ngọn hải đăng và cung điện. Những nhà khảo cổ học văn hóa Ai Cập trên thế giới đều hiểu rằng tại bến cảnh mênh mông này, đối diện với đường viền quanh vực thẳm, phần đẹp nhất của thành phố cổ được bao phủ bằng biển và bùn. Năm 1961, một thợ lặn người Ai Cập đã khám phá ra pho tượng khổng lồ của nữ thần Ai Cập Isis ở gần con đê của cảng nói trên. Hiếu kỳ những quan chức của Unesco, vài năm sau, đã giao việc giám định pho tượng cho nhà khảo cổ học chuyên có tài năng Honor Frost. Ông đã quan sát tận mắt thấy hàng đống những cột trụ, pho tượng, tháp cổ dài, cao và nhọn, quái thần hình sư đầu đàn bà, nằm rải rác ở vịnh. Cách đây ban năm, nhà điện ảnh Aswaelkadri khi quay phim nghĩa địa dưới biển đó, đã phát hiện thấy những kỹ sư cảng Alexandrie bao che di tích còn lại bằng những khối bê tông lớn, một việc làm gây xôn xao lớn trong dư luận. Một cuộc tìm bới khẩn cấp đã được tiến hành trên quy mô lớn. Hai nhóm nhà khoa học Pháp đã được tin cẩn, và được giao nhiệm vụ này. Một nhóm do Empereur chuyên gia nghiên cứu giai đoạn lịch sử từ cuộc chinh phục của Alexandrie đến cuộc chinh phục La Mã, phụ trách Trung tâm nghiên cứu thành Alexandrie, chịu trách nhiệm khai phá chung quanh thành lũy Qayt mà ở đó có ngọn Hải Đăng. Nhóm 2 do A. Goddio, một nhà tài chính ưa cải đổi, chịu trách nhiệm nghiên cứu đáy biển, thăm dò phần còn lại của cảng, mà ở đó những nhà khai phá cổ đại đã định vị thành phố của vương triều Ptolemees của Hi Lạp thời Lagies đã trị vì Ai Cập sau khi vua Alexandrie mất vào năm 323. Được sự giúp đỡ của Công ty Pháp ELF (công ty dầu lửa) các nhà khoa học và chuyên gia lặn người Pháp đã ngâm mình hàng giờ liền trong một vùng biển nhầy nhụa do nước bẩn thành phố thải ra. Những khối đá khổng lồ được gọt đẽo, khiến người ta liên tưởng đến nền móng của một lâu đài quan trọng. Những chuyên gia lặn tin rằng họ đã định vị được một phần vị trí của ngọn hải đăng. Những tháp, tượng những bia đá khắc chữ tượng hình Ai Cập chỉ rõ kỳ quan này, bên bờ vịnh, được bao bọc xung quanh bởi những thánh đường, có đường lát đá đi vào. Trước đây ít lâu, người ta cũng đã khai thác được một số di vật cổ từ dưới đáy biển này và bổ sung, làm phong phú Viện bảo tàng Hy Lạp – La Mã ở Alexandrie. Về phía Nhà khoa học pháp ở nhóm nghiên cứu 2, Goddio, đã sưu tầm được nhiều tài liệu quan trọng làm cẩm nang. Ví như nhà sử học Hy Lạp Strabon đã miêu tả chính xác Alexandrie, một thành phố mới, nổi tiếng thời kỳ đó. Năm 31, trước kỷ nguyên Cô đốc, Alexandrie Le Grand vua xứ Macedoine đã từng mơ tưởng đến thành cổ này. Và triết học gia Hy Lạp Aristote vào năm 322 trước công nguyên đã có bức vẽ về thành phố. Ptolemee vua thời Lagies vào năm 323 đã cho xây thành này. Tại đô thị buôn bán sầm uất này, có các dân tộc, các tôn giáo, các nền văn hóa cùng tồn tại. Đền thờ nữ thần Isis và Poseidon đã thu hút du khách các nơi. Những vua La Mã thời đó ngưỡng mộ công trình của Ptolemee. Cho đến khi đế quốc La Mã suy tàn thì thành phố này cũng tàn lụi theo. Động đất đã phá hủy những cung điện. Sự di chuyển của dốc mặt đất đã nhấn chìm dưới biển những khu phố nổi tiếng nhất. Goddio, cũng như nhiều nhà khoa học khác, tin rằng những di tích đẹp nhất của thành cổ đã thể hiện trong tầm tay, dưới chân những đại lộ dọc bờ biển. Họ đã được cơ quan năng lượng nguyên tử Pháp trang bị những bộ từ kế cực kỳ chính xác để đánh dấu vị trí của di vật chỉ cách gần một mét. Một loại máy vi tính mạnh nhất cũng đã được dùng để xử lý dữ kiện. Thời gian vừa qua, sau hàng vạn giờ lao động, cuối cùng người ta đã vẽ được toàn bộ cung thành của Cleopatre, bao gồm cảng thương thuyền xưa, vũng tàu buôn đậu, những đe đắp được che phủ bởi những cột khổng lồ làm bằng đá Grait vụn màu xám và những pho tượng đá hoa mịn có lẽ đúng là những nơi có các đền đài và cung điện. Có lẽ phải mất 15 năm lao động mới có thể tái lập thủ đô mà Cesar từng ham muốn xâm chiếm, nhà khoa học Pháp Goddio thốt lên như vậy và sẵn sàng bám trụ lâu dài bên bờ đường viền quanh thành cổ, ở đó người Ai Cập đang canh giữ biển ngày đêm. (Theo Báo Pháp)
Tôi chỉ có thể suy đoán rằng, mặc dù cô Joan gọi Ilif Braun là bác xong xét theo cử chỉ của ông ta khi ôm cô gái ấy vào lòng thì tình cảm của ông ta đối với cô gái bồng bột hơn là tình cảm của một người đỡ đầu.
Hoàng Đăng- Trí Thức Trẻ – số 21 – tháng 3 – 1997.

Nhà máy mô

Những phiên bản người không đầu sẽ được nuôi dưỡng để lấy linh kiện thay thế?
Các nhà khoa học Anh đã thành công trong thí nghiệm nuôi cấy bào thai ếch không đầu. Áp dụng phương pháp biến đổi cấu trúc gen tế bào tương tự. giáo sư Jonathan Slack đã dễ dàng sản xuất những con nòng nọc thiếu hẳn những bộ phận khác vốn có của cơ thể như: thiếu đuôi, thiếu cổ. Thí nghiệm này như mô tả gần đây trong tờ “The Sunday Times” cũng mở ra triển vọng dưỡng những phiên bản không có đầu (tức là thiếu hẳn bộ não và hệ thần kinh trung ương để lấy linh kiện thay thế. Bào thai ếch không đầu nhất thiết phải bị tiêu diệt sau 7 ngày tuổi, bởi theo luật pháp nước Anh, trong tuần đầu của cuộc sống, mội cá thể vẫn chưa được coi là động vật, vì thế có thể cho phép thực hiện với nó tất các thí nghiệm. “Những phương pháp ngăn chặn gen tương tự quyết định sự phát triển của từng bộ phận cơ thể, về mặt lý thuyết cũng có thể áp dụng với con người, bởi trong tất cả các động vật có xương sống đều tồn tại hệ thống gen với chức năng gần giống nhau” giáo sư Slack giải thích trong một chương trình do đài BBC phát sóng. Tuy nhiên việc coi những thai nhi như nhà máy sản xuất linh kiện thay thế vẫn chưa được đưa vào chương trình nghiên cứu bởi những bào thai đó phải bị hủy diệt khi theo luật pháp, hành vi này trở thành hành động giết người. Đứng trước thực tế như vậy, giáo sư Slack đề xuất giải pháp tình thế khả dĩ vượt qua hàng rào đạo lý và luật pháp: “Có thể lập trình cấu trúc gen để phôi người chỉ độc nhất phát triển những bộ phận cần thiết cho nhu cầu cấp ghép”. Nhà phôi sinh học Anh chỉ còn bâng khuâng một điều không biết rồi xã hội có chấp nhận việc nuôi cấy những bộ phận cơ thể người như thế trong dạ con phụ nữ hay không? Hiện thực hơn có lẽ là giải pháp lấy tế bào đơn lẻ từ cơ thể bệnh nhân đang chờ ghép mô và bằng phương pháp nhân bản để có những bộ phận cần thiết trong phòng thí nghiệm. Những cản trở về mặt kỹ thuật cần phải bị đẩy lùi trong tương lai không xa. Giáo sư Slack khẳng định. Triển vọng những kỹ thuật biến đổi gen tương tư càng mang tính hiện thực sau tuyên bố của các nhà khoa học Xcôt-len ở Edynburg, tác giả phiên bản của cừu Dolly. Họ thông báo rằng, những phiên bản người đầu tiên những sinh linh có xuất xứ chỉ từ một cơ thể có thể xuất hiện trong thời gian hai năm tới. Tờ The Sunday Times giới thiệu quan điểm một số nhà khoa học Anh liên quan đến các thí nghiệm của giáo sư Slack và triển vọng thực hành trên phôi người. Phương pháp tư duy như thế chẳng khác gì một thứ chủ nghĩa phát xít khoa học. Nó dẫn đến việc tạo ra những sinh linh, mà mục tiêu tồn tại độc nhất là phục vụ nhóm người thống trị. Giáo sư Andrew Linzey, nhà đạo đức học thuộc đại học Oksford lên án giáo sư Slack. Thế nhưng nhiều nhà sinh học khác lại ủng hộ giáo sư Slack. Những phương pháp của ông hoàn toàn lương thiện và về cơ bản có thể thực hiện không hề có nghi ngờ gì về mặt đạo lý, bởi nó không hề làm tổn hại bất cứ ai. Nhà sinh học ở Luân Đôn khẳng định. Nhật báo phái hữu Pháp thể hiện quan điểm hoàn toàn khác đối với vấn đề trên. Nòng nọc không đầu mới là một nửa công trình phi thường mà giáo sư Slack muốn cống hiện cho nhân loại. Nhà bác học này suy nghĩ hoàn toàn nghiêm túc về kế hoạch thực hiện những thay đổi di truyền trong các phiên bản con người, đối tượng trở thành nguồn cung cấp các bộ phận thay thế cho bệnh nhân, trong trường họp cần thiết. Bởi lẽ từ những giây phút bắt đầu cuộc sống, chúng đều không có đầu, thế nên việc nuôi dưỡng những sinh linh như thế hoàn toàn không động chạm gì đến lĩnh vực pháp luật cũng như đạo lý. Những cơ thể không có não không thể được coi như con người. Vậy nên nhân loại không có gì phải bâng khuâng một khi tiêu thụ những bộ phận như gan, mật, thận, tim… được chế tạo bằng công nghệ này. Tiến sĩ Monique Vigy viết. Nhìn một cách khách quan những phương án nuôi cấy những túi bào thai không đầu và hệ thần kinh trung ương không lệ thuộc vào những ích lợi thực tiễn có thể mạng lại, cũng phải trở thành đề tài tranh luận không chỉ trong giới khoa học và thầy thuốc. Vậy nên thật khó đoán biết về số phận của dự án nhà máy các bộ phận thay thế cho cơ thể sống.
Trần Văn Đôn- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.

Thủ phạm tệ ngoại tình hay bản chất hóa học của tình yêu

Trên các tập san y học nói riêng, khoa học nói chung, thậm chí cả trên các tờ nhật báo người ta vẫn thường thấy đăng tin quảng cáo nhà thuốc nọ, pháp y kia có các biệt dược có tác dụng chữa khỏi các hiện tượng suy giảm khả năng tình dục như liệt dương, liệt âm, xuất tinh sớm, hoặc trầm trọng hơn nữa là hiện tượng không có sở thích tình dục hoặc máu lạnh. Nhưng chưa thấy một pháp y nào có toa thuốc có thể chữa trị được các bệnh ngoại tình. Thật lạ, trong đời có những người sống đơn tình, một vợ – một chồng. Nhưng cũng có những người rất là đa tình. Đối với họ, tình yêu nào cũng lãng mạn, cũng say đắm, mãnh liệt, là một nhu cầu sống khá phức tạp, bức xúc. Gần đây, khi nghiên cứu bản chất khoa học và sinh học của quá trình tiến hóa và di truyền của sinh vật, các nhà khoa học đã tìm ra được các hóa chất có tác dụng điều hòa khả năng tình dục. Tomac Inzel, khi tiến hành các công trình nghiên cứu trên chuột, đã phát hiện được hai loại khác nhau căn bản về thiên hướng tình dục. Loại chuột sống ở bang Illinois của Mỹ nổi tiếng là một loài vật chung thủy. Chúng chỉ sinh hoạt tình dục theo nguyên tắc một vợ – một chồng. Sau kỳ trăng mật, chuột đực chỉ chăm lo chiều chuộng và bảo vệ chuột cái và về sau là những người cha mẫu mực, rất chú tâm đến nuôi dưỡng con cái. Còn một loại chuột khác sống ở vùng núi Vaioming nổi tiếng bởi tính đa tình. Chúng được coi là loài động vật trụy lạc nhất. Một con đực hoặc một con cái có thể quan hệ tình dục với nhiều bạn tình khác nhau. Qua nghiên cứu phân tích thành phần máu của hai loại chuột này. Tomas Inzel xác định được hai chất hormone có tên khoa học là vazoprexin ở chuột đực và ocxytoxin. Hai chất này đóng vai trò chiếc đũa thần điều khiển các reseptor ở não chuyên làm nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động tình dục. Ở loài chuột đa tình, hàm lượng các chất reseptor đó hấp thấp, ít có tác dụng khống chế khả năng tình dục và võ não của chúng luôn ở trạng thái bị kích thích hướng tới hành vi sa đọa. Ở loài chuột đơn tình, chung thủy, các hóa chất ức chế tình dục ở não khá cao và chúng ít có nhu cầu tìm kiếm nhiều cảm xúc trăng hoa. Từ đó, Tomas Inzel tiến hành một đợt thí nghiệm khá độc đáo. Áp dụng công nghệ gien, ông có ý định cấy gien tình dục của loại chuột chung tình sang loại đa tình với hy vọng làm thay đổi bản tính của chúng, mà thực chất là thay đổi khả năng sản sinh ra các hóa chất tình dục trong máu chuột. Bước tiếp theo, ông áp dụng nghiên cứu trên loài khỉ. Và người ta đặt câu hỏi, liệu ông có định chuyển giao công nghệ đó sang người hay không? Hiện tại, các nhà khoa học đã khẳng được rằng trong bộ não người có các khu vực chuyên trách điều hành các hành vì tình dục và tình cảm. Hỗ trợ cho quá trình đó có cả một nhà máy hóa chất sản xuất các vi chất quyết định hành vi sinh lý theo một chương trình di truyền của từng con người cụ thể, gọi là chương trình gen. Tùy thuộc vào chương trình gen đó mà có người đa tình, người đơn tình. Ở người ngoài bản chất vazoprexin và ocxytoxin, còn có hormone sinh dục nam tesrosteron và hormone sinh dục nữ estrogen. Trong cơ thể đàn ông, hormone sinh dục lúc nào cũng được sản sinh dồi dào dưới tác dụng chỉ huy của bộ não. Chỉ cần có lệnh từ não phát ra, nhà máy hóa chất khỏi tăng công suất hoạt động để chế tạo các hormone kích thích tình dục. Nếu không bị ràng buộc bởi các quan niệm đạo đức trong xã hội, trong máu đàn ông bao giờ cũng có các hóa chất kích thích nhu cầu ngoại tình. Ở phụ nữ lại khác, hormone tình dục chỉ sản sinh nhiều nhất ở thời điểm trước hành kinh, cao nhất vào lúc trứng sắp rụng. Lúc đó, nhu cầu tình dục, của phụ nữ cao ngang với nam giới. Ở con người còn có các hóa chất kỳ lạ khác, chúng được các nhà khoa học gọi là các kỵ sĩ của tình yêu. Đó là chất endorfin. Chất này do bộ não chỉ đạo sản sinh ra, có tác dụng đem lại cho cơ thể những khoái cảm, những đam mê mạnh mẽ ngoài tình dục, cuốn hút và giúp con người giữ được sự cân bằng tình cảm. Endorfin được sản sinh ra nhiều nhất khi con người hoạt động cường độ cao trong lao động sáng tạo khoa học, chơi thể thao, bơi lội, nhảy múa hoặc thậm chí cả khi đi bộ. Có lẽ vì thế mà tình yêu chung thủy một khi hai con người hòa quyện với nhau bởi những ước muốn chung, hoài bão chung cao cả, bởi cùng chung những lý tưởng mà họ nỗ lực vươn tới. Đối với họ, trong hôn nhân tình dục không phải là tất cả. Còn đối với những ai đánh giá cao và quá nhấn mạnh khía cạnh tình dục trong tình yêu, trong hôn nhân, không sớm thì muộn họ sẽ vượt rào vào vườn cấm. Cũng từ đây, các nhà khoa học nhìn nhận rộng hơn về khái niệm ngoại tình. Ngoại tình không chỉ là chung đụng về thể xác. Còn có thể ngoại tình bằng mắt, ngoại tình bằng ý nghĩ và ngoại tình qua lời nói. Lúc đó, do sự xui khiến của bộ não, trong máu cơ thể người đã tràn đầy các hóa chất có tác dụng kích thích sẵn sàng đưa đẩy những người đứng đắn nhất bước tới chỗ vi phạm kỷ luật. Về bản chất, các hình thức ngoại tình đó đều như nhau cả, nhưng xét về mặt luật pháp, ngoại tình chung đụng giữa hai cơ thể có nhân chứng vật chứng hữu hình, còn các hình thức khác nhân chứng vật chứng chỉ tìm được qua xét nghiệm thành phần hóa học của máu.
Thùy Dung- Trí Thức Trẻ – số 19 – tháng 1 – 1997.