Monthly Archives: May 2016

Giới tính của bộ não

Trên phương tiện thuần túy sinh học, những khác biệt giữa bộ não của nam nữ là hoàn toàn có thể. Trong thực tế, các đặc tính vật lý và thái độ đặc trưng cho mỗi giới là do các hệ thống hốc môn khác nhau quy định. Ấy vậy mà các hệ thống hốc môn đó lại chịu sự điều khiển của bộ não. Từ vài năm nay, vấn đề giới tính của bộ não đã là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu. Phần lớn các công trình này nhằm chỉ ra những khác biệt về mặt giải phẫu và công năng giữa bộ não của nam và bộ não của nữ. Gần đây, tạp chí khoa học Nature có đăng công trình của hai nhà nghiên cứu thuộc Đại học Yale – Hoa Kỳ. Nhằm tìm hiểu cơ chế vận hành ngôn ngữ, hai nhà nghiên cứu này đã cho 19 đối tượng nữ và 19 đối tượng nam tham gia vào một trắc nghiệm ngữ âm. Để tìm ra vần của các từ, cả 19 đối tượng nam đều sử dụng bán cầu đại não trái. Trái lại, có đến 11 trong tổng số 19 đối tượng nữ tham gia trắc nghiệm đã dùng đến bán cầu đại não. Điều đầu tiên mà thí nghiệm này cho phép ta khẳng định là để làm cùng một nhiệm vụ, nam và nữ sử dụng bộ não theo những cách khác nhau. Nếu như có người cho rằng đó là một bằng chứng rõ ràng về đặc tính giới của bộ não thì các nhà sinh học thần kinh lại tỏ ra hết sức dè dặt. Và chưa nhà khoa học nào dám khẳng định quả quyết là bộ não của phụ nữ kém chuyên môn hóa hơn bộ não của nam giới. Ngoài những nhận xét giải phẫu học, khi 19 cặp nam nữ tham gia thí nghiệm này thực hiện các bài trắc nghiệm tâm lý để đánh giá khả năng thị giác và vận động thì kết quả thu được giữa nam và nữ cũng không giống nhau. Thường thì nữ có khả năng hoàn thành tốt hơn các công việc liên quan đến ngôn ngữ. Trái lại nam lại tỏ ra có ưu thế hơn trong các công việc cần đế khả năng thị giác và định vị trong không gian. Ngay cả trên khía cạnh này, các nhà khoa học cũng không muốn vội vàng suy đoán. Sự khác biệt về khả năng giữa nam và nữ là một thực tế. Nhưng điều đó không đủ để ta khẳng định nam có trí tuệ phát triển mạnh hơn hay yếu hơn so với nữ. Loài người duy trì nòi giống bằng sinh sản hữu tính. Hình thức sinh sản này đòi hỏi giữa nam và nữ phải có những cơ cấu sinh học và thái độ khác nhau. Chính trên cơ sở những khác biệt này mà những xã hội đầu tiên của loài người đã hình thành. Điều đó cho đến tận bây giờ vẫn đúng. Thường thì thái độ về từng giới là do môi trường văn hóa – xã hội quy định là chủ yếu chứ không phải do yếu tố sinh học. Lịch sử không thiếu những ví dụ trong đó khoa học phải đứng ra để thay đổi những định kiến về giới và chủng tộc. Do được nói đến quá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, những kết quả nghiên cứu liên quan đến sự khác biệt giữa bộ não của nam và nữ thường rất hay bị suy diễn rộng ra. Nguy cơ này còn tăng lên khi các công trình nghiên cứu không khoa học. Các cuộc tranh luận về giới tính của bộ não không phải là điều mới mẻ nhưng cũng chưa thể được làm sáng tỏ hoàn toàn trong một thời gian ngắn. Từ những chứng cứ trên, có lẽ không có gì lạ, khi kết luận rằng nguy cơ nhiễm bệnh không chỉ phụ thuộc vào gen di truyền, mà nhóm máu. Trong mấy năm gần đây, sinh học thần kinh đã có những tiến bộ vượt bậc. Ví dụ như cơ cấu phân tử của trí nhớ hay hoạt động của các nơ – ron đã được biết rõ hơn. Nhưng với lượng kiến thức hiện có, khoa học chưa thể giải thích được sự khác biệt trong thái độ giữa nam và nữ. Bởi vì ngay trong vấn đề giới tính của bộ não, ranh giới giữa các yếu tố bẩm sinh và các yếu tố tập nhiễm vẫn còn chưa được rõ ràng và chính xác.
Tứ Quân- Trí Thức Trẻ – số 30 – tháng 12 – 1997.

Hoạt động Sinh lý với sức khỏe

Theo Inserm ở Pháp các cặp vợ chồng lấy nhau dưới một năm vui mây mưa 13 lần trong 4 tuần lễ, những cặp có hơn 15 năm chung sống là 7 lần. Hoạt động sinh lý trong đời sống lứa đôi không những chỉ là một khoái cảm mà còn có lợi cho sức khỏe về mặt kích thích tuyến nội tiết, hệ thống tuần hoàn, cơ bắp, thần kinh. Những phản ứng tích cực hoặc tiêu cực dao động theo độ khoái cảm trên giường ngủ. Một dấu hiệu tích cực được ghi nhận là sắc màu đào trên gương mặt người phụ nữ sau một đêm ân ái mặc dù chỉ ngủ có từ 2 đến 3 giờ trong đêm. Đứng về góc độ khoa học, sinh hoạt tình dục bình thường có lợi cho cơ thể.
Cải thiện giấc ngủ bạn khỏ cần tìm đâu thuốc an thần mà chính trên giường ngủ của mình. Khả năng làm giấc ngủ ngon êm dịu là do những chất Endorphines tiết ra trong lúc ân ái.
Kích thích tính tình: Sự sảng khoái sau sinh hoạt tình dục được giải thích bằng hoạt động của 2 nơ – tron dẫn truyền serotonine và dopamine do tuyến yên tiết ra dưới ảnh hưởng của khoái cảm. Chúng kích thích não, rồi đến máy gây nên tâm trạng hoan lạc toàn thân.
Giảm đau đớn khoái cảm sinh lý đẩy lùi cái ngưỡng của sự đau đớn. Một cái véo tay trong lúc người phụ nữ đang thích thú hoàn toàn khác với cái véo tay những lúc bình thường. Trong cơn cực khoái, cái ngưỡng chịu đựng đau có thể tăng lên trên 70%
Giảm lo âu: thú vui chăn gối có tác dụng giảm lo âu, chống stress, trợ lực tinh thần. Căn nguyên vẫn là sự giải phóng chất endorphines trong cơn cực khoái. Về phía các phản xạ, những vuốt ve có khả năng làm êm dịu tinh thần thực sự. Cũng như các hoạt động thể lực, thú vui chăn gối giải tỏa những căng thẳng về cơ bắp, thần kinh và tâm lý.
Kích thích hệ tuần hoàn: Trong lúc kích thích về sinh lý lưu lượng máu tăng lên ở những vùng gợi dục và trong toàn cơ thể. Những động mạch hơi co lại, khi đạt tới sự thích thú chúng sẽ giãn ra và dẫn đến một cảm giác dễ chịu toàn thân.
Hạn chế việc tăng trọng lượng. Mỗi lần giao hợp 20 phút mất 200 ca lo tương đương với nửa giờ chơi quần vợt hoặc chạy bộ là 1,5 km. Ngược lại, những phân tử chống lo âu mà sự thích thú tạo ra những endorphines làm giảm bệnh thèm ăn vô độ.
Tái tại máu: từ 15 vận động hô hấp trung bình trong 1 phút lúc nghỉ ngơi, khi kích thích tăng lên thì vận động hô hấp tăng lên tới 40 lần cho một phút. Kết quả, máu lưu thông tốt hơn trong cơ thể, cung cấp nhiều oxy hơn. Những chất thải của khí CO2 sẽ bị đẩy ra, máu được tái tạo tốt hơn.
Đẩy mạnh tiêu hóa: Theo các nhà nghiên cứu Mỹ, nước bọt mà người ta trao đổi trong khi hôn nhau sâu đậm sẽ giúp cho việc tiêu hóa dễ dàng hơn và có tác dụng tốt đối với hệ thống miễn dịch. Sự co thắt của các cơ bụng trong lúc ân ái tạo ra một loại xoa bóp thực sự từ ngoài vào trong khiến cho việc chuyển hóa trong ruột được thuận lợi hơn.
Hydrat hóa da: Sự thích thú làm gia tăng việc tiết ra chất Estrogene hormone tình dục nữ da sẽ được tưới nước nhiều hơn trở nên sáng bóng, mềm mại.
Bảo dưỡng trí nhớ: Là đại bản doanh của hệ thống hormone, vùng cấu tạo dưới đồi cũng là trung khu của các trung tâm ký ức và tập luyện. Một công trình nghiên cứu của Mỹ về các sinh viên đã chứng minh sự thỏa mãn sinh lý trong thời kỳ thi cử sẽ có khả năng tập trung tư tưởng cao hơn.
Rèn luyện tim: Từ 70 đến 80 lần đập cho một phút trong lúc nghỉ ngơi. Trong cơn cực khoái nhịp đập sẽ tăng từ 110 đến 180 phút sau đó sẽ hạ dần. Đây là cơ hội tốt để rèn luyện tim.
Bộ ngực to lên do tác dụng của sự kích thích và sự gia tăng lưu lượng máu, vú có thể tăng thể tích tới 25% trong mỗi lần ân ái. Độ nhạy cảm của nó tăng gấp 10 lần.
Điều hòa kinh nguyệt: một cuộc sống tình dục trục trặc thường biểu hiện bởi kinh nguyệt thất thường. Trái lại sinh hoạt tình dục đều đặn dẫn tới kinh nguyệt đúng thời gian.
Tạo thuận lợi cho việc thụ thai: Trong cơn cực khoái người phụ nữ có thể rụng trứng lần thứ hai trong một chu kỳ kinh nguyệt.
Nguyễn Huy Giao – Trí Thức Trẻ – số 30 – tháng 12 – 1997.

Chuyện rắc rối do thay đổi lịch

Lịch Gregory chính là thứ lịch thế giới đang sử dụng ngày nay. Sau khi Gregory điều chỉnh lại lịch, một số nước vẫn tiếp tục sử dụng lịch cũ của Caesar. Cho tới năm 1752 Vương quốc Anh và những thuộc địa ở châu Mỹ mới chuyển sang dùng lịch của Gregory. Theo lịch củ của Caesar năm 1700 là năm nhuận cộng thêm 1 ngày, nhưng theo lịch mới đó lại là một năm bình thường, như vậy so với lịch mới năm 1752 sẽ thừa ra 11 ngày. Để thay đổi đã phải quyết định tiếp sau ngày 2 tháng 9 năm đó sẽ là ngày 14 tháng 9. Tại Mỹ, cũng xảy ra không ít trục. Sử sách còn ghi lại, G. Washington, vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ đã sống trong thời gian lịch đang thay đổi. Khi đó, ông còn rất trẻ. Theo sử sách ngày nay, ông sinh vào ngày 22 tháng 2 năm 1732. Nhưng trong ghi chép trong gia đình, ngày sinh của ông lại là 11 tháng 2 năm 1732. Cả hai đều đúng cả. Để cho tiện. G Washington đã gọi ngày đầu là ngày sinh nhật kiểu mới, còn ngày thứ hai là sinh nhật kiểu cũ. Một nhà lãnh đạo tài ba khác của Hoa Kỳ là Benjamin Franklin, lúc đó đã 46 tuổi. Khi bị mất trắng hơn chục ngày, ông đã viết một cách khôi hài là Bạn đọc thân mến! Đừng ngạc nhiên về số ngày đã mất và đừng buồn phiền về thời gian đã mất. Hãy tự an ủi mình bằng ý tưởng này việc chi tiêu của bạn sẽ nhẹ nhàng hơn và trí óc của bạn sẽ thoải mái hơn. Những kẻ ưa chăn gối sẽ sung sướng biết bao, khi được nằm ngủ từ ngày mồng 2 cho tới tận ngày 14 trong tháng này mới phải tỉnh giấc. Có điều đối với vấn đề thay đổi lịch, nhiều người lại không thể có thái độ lạc quan như ông Franklin. Ví dụ như công nhân đòi trả lương trong những ngày đã bị bỏ mất, còn những ông chủ thì không chịu trả lương cho những ngày thợ không làm việc. Không ai chịu ai và cả hai bên đều không bằng lòng. Việc chuyển đổi sang thứ lịch mới còn kéo dài mãi tới tận đầu thế kỷ 20. Lúc này, so với lịch cũ, lịch mới đã sai khác tới 13 ngày. Tại Nga, ngày 24 tháng giêng năm 1918, Lê nin mới ký sắc lệnh về chuyển đổi lịch Pháp. Theo sắc lệnh này sau ngày 31 tháng giêng, không phải là ngày 1 tháng 2, mà sẽ là ngày 14 tháng hai. Cách mạng tháng mười Nga nổ ra nước Nga vẫn dùng lịch cũ. Theo lịch mới, ngày lịch sử này là ngày 7 tháng 11, còn theo lịch cũ, sự kiện đã diễn ra trước đó là 13 ngày, vẫn còn thuộc phạm vi tháng Mười. Cho nên ngày nay, cuộc cách mạng vẫn có tên là Cách mạng Tháng mười….
Thế kỷ 21 sẽ bắt đầu vào năm 2000?
Mỗi thứ lịch đều có năm khởi đầu được gọi là năm lịch nguyên. Đó là năm đặc biệt. Trong Dương lịch hiện hành lịch nguyên là năm chúa Jê su ra đời. Năm đó được coi là năm lịch nguyên và được tính là năm 1, lịch nguyên có nghĩa là năm gốc, tiếp sau là năm 2, 3, 4… năm trước năm lịch nguyên gọi là năm 1 trước công nguyên, trước nữa là năm 2 Trước công nguyên, 3 trước công nguyên, 4 trước công nguyên… nếu như trong tất cả các dụng cụ đo lường, số 0 thường coi điểm gốc, thì trong lịch điểm gốc lại là năm 1, không có năm 0, chính sự trái khoáy này đã gây ra cho con người không ít điều rắc rồi và một triết gia đã phải thốt lên rằng: “Không biết do tiền nhân sơ xuất, hay là một sai lầm lịch sử? Trong lịch không có năm số 0. Điều đó thật ra khó quyết đoán. Phải chăng Thượng đế muốn thử thách trí tuệ của con người, phải chăng Thượng đế muốn đùa bỡn một chút…”. Vì không có năm 0 nên năm thứ nhất trong lịch là năm 1. Đó là một chi tiết rất nhỏ, tưởng như chẳng cần phải nhắc đến. Thế nhưng, khi thế kỷ thứ 21 đã đến gần hơn, thì cuộc tranh luận về thời điểm khởi đầu của thế kỷ đã trở nên sôi nổi. Đó là vấn đề gắn liền với năm 0. Xem ra vấn đề năm 0 đã chẳng phải là chi tiết vụn vặt nữa rồi! Vậy thì thế kỷ thứ 21 sẽ bắt đầu vào năm 2000 hay là năm 2001? Để trả lời câu hỏi này ta chỉ cần nhìn về quá khứ. Như chúng ta biết, thế kỷ là 100 năm, thế kỷ 1 bắt đầu từ năm 1 và kết thúc vào năm 100. Thế kỷ thứ 2 bắt đầu từ năm 101 và kết thúc năm 200, các thế kỷ tiếp theo cũng tính tương tự như vậy. Thế kỷ 20 bắt đầu từ năm 1901 và kết thúc vào năm 2000, và thế kỷ thứ 21 sẽ khởi đầu vào năm 2001. Cách tính toán thế kỷ như vừa nói trên, đã ngự trị trong lịch sử hai nghìn năm nay, thế nhưng, điều đó hiện nay đang bị khá nhiều người phản đối. Chỉ vì một lý do nhỏ người ta đã quên mất là lịch không có năm 0. Chẳng hạn, chắc có người còn nhớ năm 1993 Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra quyết định những đứa trẻ sẽ sinh ra vào đúng 0 giờ 0 phút ngày 1 tháng 1 năm 2000 sẽ được coi là những đứa trẻ của thế kỷ 21. Như vậy thế kỷ thứ 21 được hiểu ngầm (hay hiểu nhầm?) là bắt đầu vào năm 2000!. Cuốn lịch là vật rất nhỏ bé và quen thuộc, song đằng sau nó đã có biết bao điều kỳ lạ. Câu chuyện đằng sau cuốn lịch có tới trên 5 nghìn năm lịch sử và tiểu sử của cuốn lịch đến nay vẫn còn được viết tiếp. Bởi lẽ thứ lịch chúng ta đang sử dụng hiện nay vẫn chưa thật là hoàn chỉnh.
Tất Hùng – Trí Thức Trẻ – số 29 – tháng 11 – 1996.

Đồng hồ Cartier

Thành lập từ năm 1847, Cartier nhà kim hoàn danh tiếng thế giới luôn dẫn đầu trong lĩnh vực đồ trang sức cao cấp. Đầu thế kỷ 20, Hoàng tử xứ Wales đã ban cho Cartier danh hiệu vua của các nhà kim hoàn và nhà kim hoàn của các vị vua để xác nhận chất lượng và tính nghệ thuật đặc biệt của Cartier. Suốt 150 năm qua, hình ảnh của Cartier luôn là sự tinh tế, tính lịch lãm và sang trọng. Đặt sản phẩm Cartier bên cạnh bất kỳ sản phẩm nào, người ta đều dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa chúng. Qủa nghệ thuật sáng tạo của Cartier không gì so sánh. Sự khéo léo tinh xảo đến kinh ngạc ẩn chứa trong từng sản phẩm Cartier người bắt đầu sự nghiệp từ năm 28 tuổi thì tính nghệ thuật trong từng sản phẩm là vô cùng quan trọng. Ông không bao giờ chịu để lọt ra ngoài bất kỳ sản phẩm chất lượng thấp nào dù chỉ với một lỗi nhỏ xíu. Với tư tưởng đó, ông đã cho ra đời những chiếc đồng hồ kỳ dịu những chiếc đồng hồ không chỉ để đo thời gian. Trong số các sản phẩm trang sức cao cấp của Cartier thì phải kể đến các loại đồng hồ nữ trang một khu vực được đánh giá rất cao. Cartier đã thổi vào chúng hơi thở của nghệ thuật qua những sáng tạo hết sức độc đáo và quyến rũ. Nét tao nhã của đồng hồ Cartier không chỉ được thể hiện ở bên ngoài, qua lớp kim cương được gọt giũa tỉ mỉ mà còn cả từ bên trong, nỗi một chuyển động với từng chiếc lò so được chuốt bằng tay mỏng như sợi tóc. Tất cả được làm bằng sự kiên nhẫn và tỉ mỉ cao độ của người nghệ nhân đầy đam mê với nghệ thuật. Không ngừng sáng tạo suốt 150 năm qua, Cartier đã biến những vật đo thời gian thành các tác phẩm nghệ thuật. Và thành công của Cartier được làm nên chính từ niềm say mê sáng tạo ấy.
Những ảnh hưởng vô hình đe dạo khả năng sinh sản của nam giới
Các cụ ta nói no ấm cật, dậm dật khắp nơi. Xin lưu ý từ được dùng là ấm chứ không phải là nóng. Bởi lẽ nóng quá sẽ ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh sản của nam giới. Trong thực tế, tinh trùng được sản sinh ở nhiệt độ khoảng 34 độ C. Trên mức nhiệt này, quá trình sản sinh tinh trùng sẽ bị rối loạn. Vì lý do nghề nghiệp, thợ làm bánh mìn, đầu bếp, thợ nung đồ gốm, thợ luyện kim hay thợ thổi thủy tinh thường xuyên phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ rất cao nhiều giờ mỗi ngày và vì vậy sẽ có nguy cơ bị suy giảm khả năng sinh sản. Không vì thế mà chúng ta khuyên những người này nên bỏ nghề. Tuy nhiên, họ nên tránh xa nguồn nhiệt khi công việc không bắt buộc để giảm thiểu ảnh hưởng do nhiệt độ gây ra. Ở Một khía cạnh hoàn toàn khác, không phải vì lý do nghề nghiệp mà chỉ bởi sở thích cá nhân, những người thường xuyên tắm nước nóng hay tắm hơi ở nhiệt độ quá cao cũng có nguy cơ bị suy giảm khả năng sinh sản. Phải chăng vì thế mà những anh chàng kiếm cớ đến tiệm sauna để tìm công đoạn 3 thường không thiết tha gì đến chuyện tấm táp? Nhân tiện nói đến vấn đề khả năng sinh sản, xin phép khuyên thêm giới mày râu không nên ngồi một chỗ quá lâu dù là ở công sở hay trên xe hơi. Theo tính toán, thời gian thả rông đủ để thụ tinh của một người thường xuyên ngồi liền một mạch hơn 3 giờ hay phải tiếp xúc với nguồn nhiệt quá cao sẽ lâu hơn người bình thường tới vài tháng. Vì vậy những người phải làm việc nhiều giờ trong tư thế ngồi hãy thường xuyên đứng dậy làm vài động tác thể dục để đổi tư thế. Còn những ai phải đi xe hơi một chặng đường dài thỉnh thoảng hãy dừng xe nghỉ, ngơi ít phút. Và trong cả hai trường hợp ngồi làm việc hay ngồi xe hơi, không nên sử dụng ghế bọc da cho dù ngồi loại ghế này rất thích.
Bích Vân – Trí Thức Trẻ – số 29 – tháng 11 – 1996.

Những bất ngờ trong ngôn ngữ

Sự giàu có thái quá ngôn ngữ ở một số địa bàn trái đất từ nhiều năm là câu hỏi khiến không ít nhà ngôn ngữ học phải bối rối. Thí dụ điển hình trong tất cả các ngôn ngữ, mà nhân loại đang sử dụng, có tới một phần ba thuộc về châu phi! Có thể giải thích thực tế đó bằng cách nào?
Mảnh đất miền Tây lục địa điểm thực sự xứng đáng với danh hiệu sự kỳ diệu của ngôn ngữ. giữa Sengan và Camaroon, trên địa bàn nhỏ hơn diện tích nước Mỹ, có thể đếm được trên 700 ngôn ngữ khác nhau. Tại quốc gia chỉ có 12 triệu dân Camaroon, số ngôn ngữ là 275. Ở nước Togo nhỏ xíu với 50. Điều kỳ lạ là đa số khác nhau với mức độ như tiếng Anh và Trung Văn.
Thời tiết, giả thiết thứ nhất
Cho tới nay, tất cả mọi giả thiết lý giải sự giàu có ngôn ngữ trên lục địa xem ra không đứng vững. Một số nhà nghiên cứu khẳng định rằng, trong cấu trúc những ngôn ngữ ấy đầy rẫy yếu tố phi lý. Riêng nhà nhân chủng học là giáo sư Dainel Nettle thuộc trường đại học Oksford, sau 4 năm nghiên cứu lại đưa ra kết luận hoàn toàn trái ngược nhau. Giáo sư Nettle bắt đầu bằng việc lập bản đồ chi tiết phạm vi sử dụng tất cả các ngôn ngữ trong cùng lãnh thổ giữa Senegan và Camaroon. Tiếp theo, ông làm phép đối chứng với những bản đồ phân bố dân cư, bản đồ xác định độ đậm đặc các tuyến giao thông, bản đồ về độ che phủ rừng… Điều bất ngờ rút ra từ phép so sánh là nguyên nhân nguyên thủy không chỉ phụ thuộc vào mức độ năng động của con người, mà cả điều kiện khí hậu. Tại vũng lãnh thổ này, nhiệt độ môi trường và lượng mưa là yếu tố quyết định độ đậm đặc của ngôn ngữ. Vùng đất càng mưa nhiều và to, nơi ấy càng nhiều tiếng nói!.
3 làng – 1 ngôn ngữ
Để có số liệu chính xác, giáo sư Nettle chia vùng lãnh thổ nghiên cứu thành nhiều ô với diện tích mỗi ô xấp xỉ là 15 nghìn km vuông. Kết quả cho thấy tại những vùng phía Nam, nơi mưa kéo dài trung bình 11 tháng trong năm, số ngôn ngữ có thể lên tới con số 0. Dịch chuyển lên phía Bắc, chỉ số giảm dần tại những vùng ít ẩm ướt hơn, số ngôn ngữ chỉ bằng một nửa con số tối đa, còn gần khu vực Sahara chỉ số tối thiểu, tức trung bình là từ 2 đến 3 ngôn ngữ một ô. Niger và Nigeria là thí dụ điển hình về vai trò của khí hậu đối với sự phát triển của ngôn từ. Hai quốc gia này có diện tích như nhau. Chúng chỉ khác về phương diện điều kiện khí hậu. Niger là đất nước sa mạc chiếm đa phần lãnh thổ trong khi Nigeria nằm bên vịnh ghi – nê lai màu mỡ đất canh tác. Ở quốc gia thứ nhất dân chúng sử dụng 20 ngôn ngữ trong khi tại quốc gia đối chứng 430. Một số ngôn ngữ ở Nigeria thí dụ như horom có phạm vi sử dụng rất là hạn chế, chỉ gói gọn trong 2 đến 3 làng. Không hiếm cư dân ngẫu nhiên trở thành nhà thông thái với khả năng thông thạo hàng chục ngoại ngữ qua quá trình làm ăn buôn bán…
Tại sao mưa nhiều đẻ ra ngôn ngữ?
Trong những vùng nhiều mưa thường không thiếu thốn lương thực. Về phương diện này, dân cư ở những địa bàn ấy thường có cuộc sống sung túc mỗi năm có vài ba mùa thu hoạch và mọi thứ cần thiết cho cuộc sống. Còn ở những vùng đất ít mưa hơn, tình hình khác hẳn chỉ canh tác được số ít cây, con. Để bù đắp sản phẩm thiếu hụt, cần phải vượt làng, đi đến những làng mạc trù phú hơn. Người ta phải du hành, mua bán và trao đổi hàng hóa. Hoạt động này tăng lên sẽ thúc đẩy quá trình biến mất ngôn ngữ. Sử dụng một ngôn ngữ sẽ tiết kiệm thời gian cho nhau và tránh được những hiểu lầm không đáng có, giáo sư Nettle giải thích.
Ngôn ngữ mất dần
Những người nghi ngờ khó tìm thấy điểm yếu trong lập luận của giáo sư Nettle. Cấu trúc canh nông những vùng lãnh thổ phía Tây Châu phi đã khẳng định sự đúng đắn đó. Tại những vùng giàu ngôn ngữ nhất, dường như quanh năm đều có thể thu hoạch khoai tây hoặc sắn, tức những cây lương thực đòi hỏi độ ẩm cao. Ở miền Bắc Nigeria và Ghana người ta chỉ trồng được cây chịu hạn, tức mùa thu hoạch ít hơn nhiều. Thiếu thốn lương thực buộc dân cư phải liên tục tìm đường kiếm ăn. Thế nên kho ngôn ngữ của nhân loại sẽ vơi cạn dần. Theo dự báo, chừng 50% trong tổng số trên 6,5 nghìn ngôn ngữ bị nguy cơ biến mất. Hiện tại, chúng mất đi với tốc độ trung bình 1 tuần cho 1 ngôn ngữ. Đến tháng 9 năm 1997, 6.528 ngôn ngữ của nhân loại được phân bố ở các khu vực lãnh thổ trái đất là châu phi chiếm 32% với 2.034 ngôn ngữ tiếp theo là châu Á chiếm 30% với 1.966, khu vực Thái Bình Dương chiếm 21% với 1.341, châu Mỹ chiếm 14% với 949 và châu âu chiếm 3% với 209.
Trần Văn Đôn – Trí Thức Trẻ – số 29 – tháng 11 – 1996.

Vi rút quỷ sa tăng – Phần 2

HIV sinh ra ở đâu?
Các nhà khoa học thế giới đã tìm ở đâu nguồn góc kẻ sát nhân siêu nhỏ đối tượng đã trở thành biểu tượng của sự khủng bố, nỗi sợ hãi và cái chết không tránh khỏi trong hơn thập kỷ qua? Dường như con người đã lây nó từ những con khổ sống trên địa bàn châu Phi. Bởi trong máu chúng, người ta đã phát hiện ra sự hiện diện của vi rút đặc biệt giống HIV. Nó được đặt tên là vi rút khỉ hủy diệt khả năng đề kháng. Tuy vậy, cho đến nay giới khoa học vẫn chưa xác định được thời điểm SIV chuyển dịch từ cơ thể khỉ sang cơ thể người. AIDS được coi như bệnh mới, mà thời gian xuất hiện mới vài ba chục năm. Trường hợp nhiễm bệnh sớm nhất được ghi chép ở châu Phi, năm 1959. Bằng cách nào giải thích thực tế SIV phải chờ đến thế kỷ 20 để chuyển từ khỉ sang người, trong khi đã nhiều thế kỷ con người săn bắt, động chạm với máu khỉ? Có thể con người, trong thời điểm nhất định, đã tạo ra con đường đưa đến cuộc xăm lăng này? Gần đây người ta nhắc đến sự việc: trong nửa thập kỷ 50, AIDS ở châu Phi có thể bùng nổ tình cờ qua chiến dịch phòng chống virut Polio đại trà. Khi ấy, trong chiến dịch kéo dài, 4 năm đã có 325 nghìn người được uống thuốc. Trong quy trình sản xuất vắc xin, người ta đã sử dụng loại vi rút Polio yếu vốn tiềm ẩn trong thân một loài khỉ châu Phi. Phải chăng liều vắc xin này đã bị nhiễm SIV? Đây là giả thuyết thứ nhất. Và vi rút này có thể nhảy từ cơ thể khỉ sang người trong những ca phẫu thuật được thực hiện ở Mỹ và Châu Phi những năm 20, thế kỷ này? Mỹ và châu Phi những năm 20, thế kỷ này? Thời đó, một số đàn ông quyết định cấy vào cơn quan sinh dục cặp tinh hoàn của khỉ với hy vọng kéo dài tuổi hồi xuân. Những ca phẫu thuật không mang lại hiệu quả như mong muốn, trái lại có thể đã tạo cơ hội cho sự xuất hiện của HIV trên cơ thể con người. Cũng không thể loại trừ giả thiết cho rằng, con người mang trong mình HIV từ lâu lắm rồi, chỉ có điều, suốt thời gian dài nó không gây phiền phức gì lớn cho thân chủ vả lại nhiều loài khỉ trong đó có cả loài mà con người sử dụng làm vật nuôi cấy vắc xin Polio cũng là thân chủ của vi rút, loài SIV. Vậy thì tại sao con người lại có thể là trường hợp cá biệt, dưới phương diện này? Theo những nhà khoa học thiên về giả thiết này, câu hỏi cơ bản không phải HIV sinh ra từ đâu, mà lại tại sao vào thời điểm nhất định, nó lại hủy diệt thân chủ một cách không thương tiếc? Từ ngày khởi đầu cuộc tìm kiếm nguồn gốc vi rút là “quỷ sa tăng”, thời gian qua đã nhiều năm, từ chỗ số người nhiễm HIV trên thế giới chỉ tính đến hàng nghìn, đến nay, dẫu nhân loại đã chi hàng trăm tỷ đô la cho hoạt động nghiên cứu, chế tạo vũ khí chống lại AIDS, số người là nạn nhân căn bệnh thế kỷ đã lên tới trên 20 triệu. Đúng là vi rút quỷ sa tăng.
Trần Văn Đôn – Trí Thức Trẻ – số 29 – tháng 11 – 1996.

Vi rút quỷ sa tăng – Phần 1

Muốn hủy diệt nhân loại quỷ sa tăng cần nghĩ ra vũ khí gì? Theo S. Connor và SH. Kingman tác giả cuốn sách mô tả lịch sử cuộc tìm kiếm vi rút gây ra AIDS câu trả lời chính là vi rút HIV. Đó là thứ vũ khí gây ra hội chứng, mà cho đến nay đã gần 20 năm, chất xám của nhân loại vẫn chưa thể chiến thắng. Đó là căn bệnh không xuất hiện bởi vi trùng không thể tìm kiếm sự cứu vớt bằng các loại thuốc kháng sinh, còn con đường lây lan được tiến hành thông qua những phương tiện, mà con người không thể cắt đứt hoặc loại trừ. Vậy thì chỉ còn cách thông qua chính con người, vi rút được vận chuyển bằng con đường hoạt động tình dục và tiêm chích ma túy là chủ yếu lĩnh vực khó kiểm soát nhất. Vi rút này là sản phẩm giản đơn hơn vi trùng và chính vì thế, nó nguy hiểm gấp nghìn lần. Từ ngày khởi đầu cuộc tìm kiếm nguồn gốc vi rút là “quỷ sa tăng”, thời gian qua đã nhiều năm, từ chỗ số người nhiễm HIV trên thế giới chỉ tính đến hàng nghìn, đến nay, dẫu nhân loại đã chi hàng trăm tỷ đô la cho hoạt động nghiên cứu, chế tạo vũ khí chống lại AIDS, số người là nạn nhân căn bệnh thế kỷ đã lên tới trên 20 triệu. Đúng là vi rút quỷ sa tăng. Không có cấu trúc tế bào và toàn thể bộ máy đủ khả năng tự xoay sở với cuộc sống. Ngoài cơ thể của vật chủ HIV tấn công cả tế bào vi trùng sinh vật cũng như động vật nói chỉ là một sản phẩm chết, là một thành phần DNA hoặc RNA. Vật chất di truyền của HIV chỉ bắt đầu cuộc sống khi nó đã lẫn vào được tế bào bị tấn công. Nó có khả năng lập trình hoạt động của thân chủ một cách tuyệt vời đến mức ngoài việc tạo ra những vật chất cấu thành chính cơ thể mình, thân chủ còn thực hiện công việc sản xuất những thành phần cấu thành vi rút HIV. Thật khó tìm vũ khí chống lại kẻ phá hoại phần tử sử dụng cùng những thiết bị như tế bào thân chủ. Tự nhiên con người bị bao bọc bởi cả thế giới thù nghịch: vi trùng, vi rút đủ loại sẵn sàng thuộc địa hóa cơ thể con người, môi trường ấm áp và đầy ấp các hợp chất dinh dưỡng. Chỉ độc nhất hệ thuần hóa – hệ thống vũ khí tự nhiên có khả năng phân biệt và tiêu diệt kẻ phá hoại. Thế nên, để HIV thực sự có hiệu lực, nó cần phải đánh giá hệ thuần hóa để làm tê liệt sự phòng vệ của cơ thể. Vị trí lý tưởng cho chiến dịch này chính là những tế bào chủ chốt đối với hoạt động có hiệu quả của hệ miễn dịch các limfoxit trợ lực. Để làm tăng cơ may chuyển giao con bệnh đến phải hoạt động bí mật. Vậy nên, giai đoạn ủ bệnh không để lội triệu chứng phải kéo dài nhiều năm. Sau khi thực hiện cuộc đổ bộ vào cơ thể người, HIV trốn kín bên trong các tế bào, nhờ thế sự hiện diện của HIV không dễ bị phát hiện. Để cản trở nỗ lực tìm kiếm loại thuốc chống lây lan cũng như để trong quá trình vận động phi sản xuất HIV có thể vô hiệu hóa hệ thống tự vệ của con người vi rút cần phải có khả năng thực hiện nhanh chóng những thay đổi hình dạng của bản thân. Hệ miễn dịch của con người bị suy yếu sau đòn tấn công bất ngờ đầu tiên của HIV, theo bản năng sẽ không ngừng được huy động để chiến đấu với kẻ thù liên tục thay đổi hình dạng. Theo thời gian, cùng với sự sụp đổ các limfoxit trợ lực, sẽ dẫn đến sự tan rã hệ thuần hóa sinh học và cái chết tất yếu do hậu quả nhiễm bệnh bất ngờ trong tình trạng cơ thể mất khả năng tự vệ. Đó là những đặc điểm của vi rút HIV, tức kẻ hủy diệt khả năng đề kháng của con người.
Trần Văn Đôn – Trí Thức Trẻ – số 29 – tháng 11 – 1996.

Đỉnh chóp núi băng?

Không khác tình hình phổ biến ở các nước, tại Việt Nam, dịch HIV/AIDS tiếp tục lan rộng đối tượng, địa bàn và hình thái dịch tễ ngày càng phức tạp. Có điều, thời gian gần đây, tốc độ phát triển của đại dịch trầm trọng hơn. Về số lượng, nếu trước đây, trung bình nước ta có thêm khoảng 1 nghìn người nhiễm HIV thì tới năm 1997, riêng qua 7 tháng đầu, đã tăng gần gấp đôi cả năm trước đó có 1.600 trường hợp. Theo đánh giá của Tổ chức y tế Liên hiệp quốc, con số mà chúng ta phát hiện được mới chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thực. Và cũng theo dự báo đáng buồn của cơ quan này, cứ theo tốc độ hiện hành, đến năm 2000, Việt Nam có thể sẽ phải đối đầu với đội quân HIV/AIDS lên tới 82 nghìn. Nếu đầu thập kỷ, HIV chỉ khu trú ở một số địa phương từ Quảng Trị trở vào, thì giờ đây đã bung ra mọi miền đất nước có mặt ở 55 trên 61 tỉnh thành toàn quốc. Dấu hiệu đáng lo ngại hơn là, nếu trước đây, HIV chỉ quanh quẩn trong cộng đồng nghiện hút, mại dâm thì bây giờ đã tồn tại hiển nhiên giữa đời thường. Có tới 65% các ca mới phát hiện ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua là do kết quả tình cờ khi khám các bệnh khác. Trả lời câu hỏi về khó khăn trong công tác điều trị người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS, cả Phó giáo sư – tiến sĩ Chung Á và Bác sĩ Trần Quốc Tuấn đều cho rằng đó là nhận thức sai lệch của số đông đối với HIV/AIDS. Với người ngoài cuộc, từ chỗ coi AIDS là căn bệnh thế kỷ vô phương cứu chữa, mọi người đều kinh tởm, xa lánh người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS như một thời với bệnh hủi (bệnh cùi). Gia đình cán bộ nọ ở một tỉnh ven biển miền Bắc đã đuổi đứa con độc nhất ra khỏi nhà, khi phát hiện nó nhiễm HIV. Khác với đa số bệnh truyền nhiễm khác, thí dụ như lao, thực ra nếu sống lành mạnh, dù ở dưới một mái nhà, ăn cùng một mâm cơm, HIV cũng không thể lây lan. Với người trong cuộc, hoặc bệnh nhân bất cần sự sống (tâm trạng khá phổ biến trong giới nghiện hút) hoặc cố ý lẩn tránh sự chăm sóc của cơ quan y tế vì mặc cảm xấu hổ trước cộng đồng, bà con làng xóm. Bác sĩ Tuấn cho biết, việc người nhiễm HIV chạy khỏi nơi cư trú khi thấy cán bộ y tế đến gõ cửa không còn là hiện tượng cá biệt. Vậy nên mặc dù Hà Nội có 45 người nhiễm HIV, song cơ sở điều trị chỉ quản lý được 32 trường hợp, trong đó có 3 người di tản từ nơi khác đến. Việc người bệnh không chấp nhận hoặc điều trị thiếu kiên trì, không chỉ đưa bản thân họ nhanh đến ngày tận số hơn, mà còn là mầm lây lan tiềm tàng cho xã hội. Có làm việc với các chuyên gia ở Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS Việt Nam, mới thấy hết tác hại kinh tế khủng khiếp của AIDS. Tùy thuộc tình trạng bệnh lý, chi phí điều trị cho một bệnh nhân mỗi năm lên tới từ 120 triệu đến 200 triệu đồng, và thường phải kéo dài trong nhiều năm. Với cái giá như thế, nếu không có nguồn trợ cấp của Nhà nước và các Tổ chức quốc tế, hy vọng thoát khỏi lưỡi hái thần chết có lẽ chỉ mỉm cười độc nhất với những gia đình cực giàu. Về phương diện Nhà nước, thời gian qua, dù tiền eo hẹp, ngành y tế vẫn phải chi trung bình mỗi năm 50 đến 60 tỷ đồng cho các hoạt động phòng chống căn bệnh thế kỷ này.
Ngọc Báu – Trí Thức Trẻ – số 29 – tháng 11 – 1996.

Min Machine, máy điều chỉnh… tình cảm – phần 2

Loại sóng thứ tư là loại đen ta, có tần số cực thấp và chủ yếu thường xuất hiện trong trạng thái ngủ sâu, hoặc khi mê sảng, khi bị thôi miên. Nhiệm vụ của máy mind machine là tạo những xung điện có các tần số thích ứng. Từ năm 1946 khi làm thí nghiệm với các đèn pha, ông Walter đã nhận thấy rằng các đường cong của điện não đồ thay đổi khi não phải phản ứng với những kích thích đều đặn từ bên ngoài. Sóng điện não cho thấy một xu hướng chỉ trong vài phút điều chỉnh lại tần số của mình cho hợp với tần số âm thanh hoặc ánh sáng tác động từ bên ngoài, nhưng chỉ là trong trường hợp, nếu tần số này so với tần số điện não không khác biệt quá 10%. Khả năng thích ứng của điện não như nói trên đã được nhiều thí nghiệm khác khẳng định. Qua các thí nghiệm, các nhà bác học của Thụy điển và Mỹ cũng đã quan sát thấy ở các bệnh nhân sự thoải mái tinh thần và một sự tăng nhanh quá trình lành bệnh. Sau đó ông Bruce Harrah Confort ở trường đại học bang Indiana cũng tiến hành thí nghiệm tương tự trong hai năm và cũng thấy rằng các nhân vật thí nghiệm đều thể hiện sức chịu đựng lớn hơn đối với các gánh nặng tâm lý. Theo bác sĩ Thomas Budzynsky ở Denver thì sau một thời gian dài sử dụng thường xuyên phương pháp này có thể quan sát thấy một hiệu ứng luyện tập. Bộ não dần dần học được cách đạt tới trạng thái cần thiết mà không phải dùng tới các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ. Thực tế này, như những người ủng hộ mind machine khẳng định, loại trừ nguy cơ nghiện ngập. Tác dụng của mind machine cũng giống như tác dụng của phương pháp luyện vi kỷ ám thị hoặc phương pháp luyện thiền, nhưng đạt kết quả nhanh hơn nhiều. mind machine còn có thể dùng để phá bỏ stress, thư giãn cơ bắp, cho giải phẫu, hoặc loại bỏ các rối loạn của giấc ngủ… Câu hỏi còn lại là tại sao và bằng cách nào các loại máy này tác động được tới não. Bởi vậy mà một số nhà thần kinh học và tâm lý học vẫn khuyên không nên dùng máy. Lý do là xung quanh sự hoạt động của não người vẫn còn nhiều dấu chấm hỏi. Tuy nhiên, nhóm chuyên gia tâm lý học của trường đại học Essen của Đức cách đây không lâu đã khẳng định kết quả nghiên cứu của các nhà bác học Mỹ. Sau một năm tiến hành khoảng 1 nghìn thí nghiệm với 120 người, các bác học Mỹ đã kết luận rằng mind machine không nguy hiểm hay nguy hại đối với con người. Chỉ trong một số trường hợp chiếm tỷ lệ không đáng kể có xuất hiện các tác dụng phụ nữ nhức đầu, khó chịu và buồn nôn. Những người khác sử dụng máy đều thấy thoải mái hơn, tỉnh táo hơn và tươi tắn hơn. Họ nói rằng họ biết cách ấn định tốt hơn việc thực hiện các mục tiêu của họ. Nhưng dù sao, cho tới nay vẫn còn thiếu kết quả của các thí nghiệm lâu dài và một số nhà bác học vẫn không loại trừ khả năng cái gọi là phản ứng Placebo mà bản chất của nó ít nhiều nằm trong sự ám thị của nhân vật thí nghiệm. Các nhà thần kinh học thì kiên quyết phản đối việc dùng mind machine đối với những người có những rối loạn thần kinh. Một số người khác lại phê phán và cho rằng việc chỉ cần bấm nút là có thể tự đặt mình vào mọi trạng thái tâm tư tùy thích là trái với tự nhiên và không thích hợp với đạo lý.
Phạm Quang Ngọc – Trí Thức Trẻ – số 9 – tháng 3 – 1996.

Min Machine, máy điều chỉnh… tình cảm – phần 1

Sau làn sóng Jogging và bodybuilding, nay lại có thêm một làn sóng mới các fitness centre để luyện não. Hiện nay, trong mỗi một thành phố lớn ở Tây Âu, Mỹ và Nhật đều có thể tìm thấy những brain-studio hoặc mind-stuio giúp bạn thư giãn bằng các xung điện. Phương tiện thông dụng hơn cả là một loại máy gọi là mind machine, nhỏ cỡ bằng một hộp nghe nhạc Walkman. Máy phát ra những tín hiệu âm thanh và quang học làm kích thích não. Nhiệm vụ của máy là giúp con người ta chỉ trong thời gian ngắn đạt được hiệu quả thư giãn và sảng khoái cả về tinh thần lẫn thể chất. Các tín hiệu âm thanh và ánh sáng do các microchep điều khiển được tiếp nhận bằng hệ thống tai nghe và bộ kính quang học đặc biệt tùy theo trạng thái tâm tư mà người dùng có thể chọn các chương trình khác nhau như tăng cường tập trung, thư giãn, khích lệ sáng tạo, gây buồn ngủ hoặc tĩnh tâm… Các nhà chế tạo loại mind machine này hy vọng vào việc đạt hiệu quả lâu dài chống stress, tăng cường tự tin, tăng cường các khả năng trí tuệ, đễàng nghỉ ngơi thư giãn và tăng trí nhớ. Người Nhật Bản rất là tâm đắc với loại sản phẩm mới này. Nhiều công ty Nhật Bản còn trang bị cho nhân viên của mình bằng các máy Mind machine cá nhân ở Đức, giá các loại máy này từ 8 trăm đến 4 nghìn mác. Các nhà thiết kế máy cho rằng hoạt động điện của não tăng giảm tùy thuộc vào trạng thái tư duy. Bộ não có khoảng chừng 1 trăm tỷ tế bào nơ rôn có liên hệ với nhau. Mỗi nơ rôn có tới 10 nghìn điểm tiếp xúc gọi là synapse, qua đó nó liên hệ với các nơ rôn khác bằng những tín hiệu điện. Cường độ hoạt động điện chung của não có thể ghi lại được bằng điện não đồ. Theo tầng số, sóng điện não được chia thành nhiều loại. Loại sóng bê ta với tần số là 13 đến 30 rung động trong một giây thì thường xuất hiện khi não ở trạng thái thức và căng thẳng. Loại sóng này đặc trưng cho sự tập trung chú ý đối với các tác động bên ngoài, cho tư duy phân tích lô gich, nhưng cũng đặc trưng cho những tình cảm bất an, tức giận và sợ hãi. Tỷ lệ lớn sóng bê ta trong toàn bộ hoạt động điện não thường đi kèm với việc tăng cường tiết ra các loại hóc môn stress. Loại sóng an pha với tần số 8 đến 12 Hz thì đặc trưng cho trạng thái nghỉ ngơi, thư giãn, chẳng hạn như ở giai đoạn ngay trước khi ngủ. Loại sóng này đã được các bác sĩ Hans berger ở Jena, Đức phát hiện từ năm 1926. Trong một số giai đoạn của giấc ngủ và khi ở trạng thái thư giãn sâu như những người lâu năm luyện phương pháp tịnh tâm đạt được, còn xuất hiện một loại sóng nữa, gọi là tha – ta, chỉ có tần số 4 đến 7 Hz. Sự tồn tại của loại sóng này đã được một người Anh William Walter chứng mình năm 1947. Loại sóng này thường kém với những ký ức sống động, với hoạt động của trí tưởng twogj, với những ngẫu hứng và với các giấc mơ, tức là vào lúc mà tư duy có ý thức đang bị ngắt mạch. Các nhà bác học hiện vẫn còn chưa thống nhất được với nhau về việc liệu có thể tạo ra được những quá trình này ở trạng thái thức hay không.
Phạm Quang Ngọc – Trí Thức Trẻ – số 9 – tháng 3 – 1996.