Monthly Archives: April 2016

Trầm cảm chữa cách gì tối ưu nhất

Tâ thiếu phụ 30 tuổi đưa vào Bệnh viện tâm thần Hải Phòng 3 năm trước đây không phải vì chứng cuồng loạn hay điên rồ mà đơn giải chỉ là đột nhiên chị rơi vào trạng thái trầm ngâm vô độ. Từ chỗ là người đàn bà hoạt bát, hay nói cười, bất đồ hàng xóm và bạn bè không cạy nổi ở chị một lời, thậm chí một phản ứng hay cử chỉ, cái mà nhiều người có thể tưởng lầm như trạng thái ngồi thiền hay trạng thái xuất thần của những sáng tạo, những thi sĩ. Nhưng làm gì có chuyện ngồi thiền hay xuất thần mấy tuần liền đối với người bình thường như vậy. Lực tim danh mục bệnh học, các bác sĩ gán cho người phụ nữ này bệnh gọi là “trầm cảm” hay “trầm uất”. Một thời gian dài, bệnh nhân này được kê đơn uống các loại thuốc chống trầm cảm và hàng tuần được đưa lên phòng trị liệu để chữa bằng phương pháp đặc biệt như thế này chân tay bệnh nhân bị tró chặt và một thanh gỗ cứng ngáng ngang miệng rồi dí các điện cực vào cơ thể để gây shock điện, khiến cho bệnh nhân giật bắn lên từng hồi. Trầm cảm loại bệnh này ngày càng phổ biến ở các nước phát triển, những đô thị đông đúc với những điều kiện làm việc căng thẳng và môi trường sống ngột ngạt, nơi mà các quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội trở nên phức tạp, chồng chéo ảnh hưởng nặng nề đến tâm sinh lý của các thành viên. Trị liệu y khoa bằng cách dùng thuốc và thiết bị y tế được dùng phổ biến suốt mấy mươi năm qua trên khắp thế giới, nhưng hiệu quả thu được rất hạn chế và tốn kém. Ấy là chưa nói đến những hiệu ứng phụ nữ mà thuốc gây ra trong một thời gian dài, cũng như ảnh hưởng của biện pháp gây shock điện phổ biến như trường hợp bệnh nhân Tâm nêu trên. Mới đây, tiến sĩ David Antonucio nhà tâm lý học ở Đại học Nevada và các cộng sự đã công bố một chương trình nghiên cứu có thể được áp dụng ngay trong thực tiễn về phương pháp điều trị mới cho bệnh này, được gọi là Liệu pháp tâm lý. Xin tạm nói qua các triệu chứng của bệnh trầm uất để từ đó bạn đọc dễ tiếp cận được với cơ sở khoa học của liệu pháp tâm lý. Đó là những cảm xúc buồn rầu vô hạn, sự ân hận sâu sắc và mất hết niềm tin, hy vọng, mất hết cảm giác ăn ngon, trằn trọc suốt canh chầy và tỏ ra chậm chạp, lười đi lại, cử động, với vẻ mặt đờ đẫn. Đó cũng chính là trạng thái của chị Tâm, thiếu phục bất hạnh với một đứa con nhỏ, xinh xắn sau khi bị chồng ruồng bỏ và phụ tình mà chẳng hề được bạn bè lối xóm quan tâm, chia sẻ, động viên. Những dấu hiệu ấy được gọi là “Trầm cảm đơn cực”. Nếu thế hẳn là phải có loại trầm cảm lưỡng cực hay còn gọi là trầm hưng cảm. Dạng bệnh nhân sáng nắng chiều mưa này không chỉ đơn thuần rơi vào trạng thái u uất mà còn những lúc phởn lên cơn thăng hoa, múa may tít mù. Xem thế cũng đủ biết rằng, về nguyên tắc mà nói, những loại bệnh có nguyên nhân tâm lý, xã hội, thì thứ thuốc đặc trị nhất hẳn phải là loại thuốc tâm lý, thuốc xã hội. Vấn đề chỉ còn là thử nghiệm và chứng minh. Tờ International Herald Tribune ra ngày 30 tháng 11, vừa qua đã thông báo kết luận của liệu pháp tâm lý sau khi tiến hành hàng chục nghiên cứu liên quan đến hàng nghìn bệnh nhân. Trước hết nó có hiệu quả ngang với việc dùng thuốc đối với những bệnh trầm cảm nhẹ và vừa. Nhưng tiến sĩ Antonuccio và cộng sự lại khẳng định rằng liệu pháp tâm lý nhất định có tác dụng tốt đối với những ca bệnh trầm cảm nặng nề thế nào đi nữa. Ông cho rằng, sự khác nhau, cơ bản nhất của 2 phương pháp này ở chỗ một đằng các bác sĩ y khoa chữa bệnh dựa trên cơ sở đánh giá bệnh nhân của họ đã làm gì, còn một đằng nhà liệu pháp tâm lý học lại dùng những biện pháp tâm lý, thôi miên để moi cho được những đánh giá về thể trạng bởi chính người bệnh từ đó đưa ra những bài thuốc an ủi thích hợp. Một công trình nghiên cứu từ năm 1992 kéo dài 18 tháng còn cho thấy, số các bệnh nhân được chữa bằng liệu pháp tâm lý bị tái phát rất ít, ít hơn rất nhiều so với những bệnh nhân được chữa trị bằng phương pháp truyền thống. Ngoài ra họ không phải chịu bất cứ một tác dụng phụ nào do thuốc gây ra. Trước mắt, các chuyên gia đề nghị nên kết hợp cả 2 phương pháp, trong đó nhấn mạnh, ưu tiên và áp dụng trước liệu pháp tâm lý hoặc liệu pháp hành vi nhận thức rồi đó mới dùng đặc trị y khoa (thuốc, máy gây Shock điện…). Trầm cảm là căn bệnh có nguyên nhân sâu xã từ quan hệ xã hội, nên phương pháp phòng và chống hiệu quả và lâu dài là thành lập những nhóm tâm lý xã hội giống như kiểu tổ hòa giải ở Việt Nam ta. Nhưng phải bao gồm đội ngũ các nhà chuyên môn có trình độ cao ở các cộng đồng dân cư nhằm phát hiện và giải quyết sớm những triệu chứng sơ khởi mà một người ở thời kỳ tiền ủ bệnh có thể mắc phải.
Mai Hiên – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.

Viên thuốc điện tử

Một nhà lãnh đạo Liên Xô cao tuổi đã được sử dụng phương thuốc độc đáo làm tăng lực và kéo dài tuổi thọ, đó là viên thuốc điện tử, nuốt vào bụng, kích thích các đầu dây thần kinh của dạ dày…
Lâu nay, những lời đồn đại tương tự lan rộng ở SNG, thậm chí được in trên cả những tờ báo được coi là uy tín. Thực hư về phương thuốc thần hiệu đó ra sao? Mới đây, một chuyên gia y học đã chính thức giải đáp trên tạp chí Nga Sức khỏe. Chuyện viên thuốc điện tử không còn là huyền thoại nữa, nó đã từng được trưng bày ở triển lãm, và trong vòng hơn 10 năm qua, đã được sử dụng hơn 2 triệu lần. Kỳ thực đó là một thiết bị bí ẩn, sản phẩm của các chuyên gia thuộc một số viện nghiên cứu bí mật. Thiết bị đó có tên chính thức là viên kích điện cục bộ hệ tiêu hóa và tuyến dịch. Nó được đưa vào sử dụng chính thức từ năm 1985, theo lệnh của Bộ y tế Liên Xô, nhưng thực ra, đã được dùng thí điểm từ 2 năm trước đó, theo chỉ thị mồm (khẩu lệnh) của vị lãnh tụ già lão đương nhiệm. Cách làm thì tùy tiện thế, nhưng may thay, kết quả không đến nỗi tồi, mở ra phương pháp trị liệu hoàn toàn mới mẻ. Viên kích điện cục bộ được làm ở dạng nang capsule kích thước là 22 và 11 mm, gồm hai bán cầu thực hiện chức năng của hai điện cực. Các nhà y học khẳng định rằng đã nhận được những kết quả khả quan trong việc chữa trị ung thư. Nhưng chủ yếu viên kích điện cục bộ có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch điều này tạo nên hiệu quả cho sự trẻ hóa. Trong nang có một vi mạch đảm nhiệm chức năng của nguồn năng lượng và máy phát xung. Người ta có thể nuốt nó như nuốt một viên thuốc bình thường, để nó nằm trong cơ thể từ 24 đến 150 giờ, sao đó, nó chui ra thật, theo con đường tự nhiên. Viên kích điện cục bộ được thiết kế theo một cách tính toán đặc biệt, chỉ tự động mở máy khi rơi vào môi trường axit trong dạ dày, đường ruột. Điện xung với một tần số và biên độ xác định, tác động vào thành dạ dày hoặc thành ruột, tạo nên phản hồi ở dạng sóng gây co dãn. Nhờ vậy, viên kích điện được sóng đẩy dần và lần lượt kích thích tất cả các bộ phận thuộc tuyến tiêu hóa. Tuy số lần sử dụng là hơn 2 triệu, song số người sử dụng viên kích điện cục bộ thì ít ỏi vô cùng. Bệnh nhân được nuốt phương thuốc thần kỳ này phải là cỡ sếp lớn và thân thích của họ, thêm nữa là những nhà du hành vũ trụ hoặc cỡ minh tinh màn bạc sân khấu. Chính họ đã tình nguyện làm vật thí nghiệm cho một công trình hết sức cẩn mật này. Chỉ từ năm 1992, viên kích điện cục bộ mới được nghiên cứu một cách toàn diện tại trường đại học Y khoa Xibir và Viện hàn lâm Y học Matxcova mang tên I. Xetreno. Người ta đã chứng minh một cách trung thực rằng, nhờ phương thuốc này, các bệnh nhân đều được cải thiện rõ rệt về hệ tiêu hóa, hệ quả rõ nhất là đối với các bệnh đái đường, phát phì… Phạm vi sử dụng viên kích điện cục bộ hiện này đang được mở rộng nhằm chữa các bệnh mất tương lực ruột do chấn thương não sau hoặc cột sống ruột mất khả năng co bóp, xơ vữa động mạch, viêm tụy cấp, ưu trương hoặc nhược trương, thận câm, liệt sinh dục, bệnh về tiết niệu, trạng thái stress, nhức đầu. Các nhà y học khẳng định rằng đã nhận được những kết quả khả quan trong việc chữa trị ung thư. Nhưng chủ yếu viên kích điện cục bộ có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch điều này tạo nên hiệu quả cho sự trẻ hóa. Cuộc hành trình của viên kích điện cục bộ trong cơ thể không gây độc hại nói chung, nhưng ở mỗi số trường hợp có thể xảy ra tình trạng teo cơ những trường hợp chống chỉ định như thế rất hiếm gặp. Các nhà chuyên môn cho biết: khó có thể sử dụng viên kích điện cục bộ trong mọi trường hợp, mà cần phải thực hiện nghiêm ngặt sự chỉ dẫn của thầy thuốc. Hiện nay, tuy còn khan hiếm và đắt đỏ, nhưng viên kích điện cục bộ đang được khoảng ba chục nước đặt mua.
Đăng Bẩy – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.

Giáo dục dân số cho thế hệ trẻ

Viễn cảnh và thách thức mới
Dân số nước ta vào năm 1995 đã ở gần mức 75 triệu người. Như vậy là so với 80 năm trước đây, dân số Việt Nam tăng lên gấp 5 lần. Thời kỳ 1960 đến 1975 trung bình mỗi năm tăng lên 1 triệu người. Thời kỳ 1975 đến 1989 mỗi năm trung bình tăng lên 1,2 triệu người. Từ năm 1989 tăng lên 1 phần 4 đến nay năm 1996 mỗi năm trung bình tăng lên 1,5 triệu người. Chính vì nguy cơ này mà Đảng và Nhà nước ta đã có chiến lược về dân số kế hoach hóa gia đình vào năm 1992 trong đó đề ra. Mục tiêu tổng quát: Thực hiện gia đình ít con, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Mục tiêu cụ thể: Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội, mỗi gia đình mỗi cặp vợ chồng có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số vào giữa thế kỷ XXI. Được sự chỉ đạo của chiến lược Dân số kế hoạch hóa gia đình, bức tranh dân số của nước ta những năm gần đây đã có những tín hiệu tiến bộ đáng khích lệ. Hai năm 1993 đến năm 1994, tỷ lệ giảm sinh đã có xu hướng giảm xuống. Năm 1993, theo dự định là giảm tới 0,43 phần nghìn nhưng thực tế đã giảm được tới 1,5 phần nghìn. Năm 1994, theo dự định giảm là 0.54 phần nghìn nhưng thực tế đã giảm 3,2 phần nghìn. Nếu duy trì được mức giảm sinh như đã diễn ra trong các năm 1993, 1994 thì tổng tỷ suất sinh bình quân số con của bà mẹ ở nước ta ở mức là ,205 con sẽ không chờ đến năm 2015 mà có thể vào năm 2005. Như vậy việc ổn định quy mô dân số ở nước ta vào giữa thế kỷ sau sẽ có quy mô là 115 đến 120 triệu người, thay vì con số là 135 đến 140 người, tức là ta tránh đi được khoảng 20 triệu người. Chúng ta đã cố giữ mức tăng dân số sao cho đến cuối thế kỷ này, trước khi bước vào thế kỷ XXI, dân số nước ta ở dưới mức là 82 triệu người. Và mức sinh thay thế mỗi cặp vợ chồng có 2 con sẽ thành hiện thực trước năm 2015.
Thực hiện giáo dục dân số cho toàn dân, song đảm bảo chắc chắn cho công tác kế hoạch hóa gia đình cần làm tốt giáo dục dân số cho thế hệ trẻ.
Cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình lấy trọng tâm đạt được sự giảm sinh, đưa trạng thái dân số vào mức sinh thay thế, tuy nhiên cái cần thiết hơn và cao hơn là vận động giáo dục nhân dân biết tổ chức đời sống gia đình, đời sống cộng đồng, nâng cao được chất lượng cuộc sống. Các hủ tục trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng, lối sống vô trách nhiệm, thiếu kỷ cương tình thương trong đời sống gia đình phải được đấu tranh loại bỏ.
Giáo dục đời sống gia đình và giới tính có vị trí quan trọng trong giáo dục dân số cho thế hệ trẻ.
Trong đời sống học đường, giáo dục dân số được thông qua một số các môn học như sinh học, đạo đức công dân, địa lý đối với cấp 2, cấp 3, đạo đức tìm hiểu tự nhiên xã hội cấp 1. Nó được xây dựng thành môn riêng ở một số trường đại học và qua các hoạt động ngoại khóa ở mọi ngành học, cấp học. Nó còn được thực hiện trong sinh hoạt đoàn thể của tổ chức thanh niên và các tổ chức xã hội khác.
Lĩnh vực giáo dục này ở nước ta hiện nay đang gặp sự thách thức từ hai phía. Có bộ phận không tán thành giáo dục giới tính cho thế hệ trẻ, họ lo ngại sớm cho thanh thiếu niên hiểu biết về vấn đề này là vẽ đường cho hươu chạy. Có những cô giáo rất ngại ngần dạy giải phẩu cho chơ thể người và liên hệ giáo dục giới tính qua chủ đề này. Có phụ huynh không muốn cho con em hiểu biết sớm các vấn đề giới tính. Người ta lo ngại về sự tràn lan một số ấn phẩm trên các hiệu sách và có nguy cơ tràn vào tủ sách riêng của học trò mà không có sự giải thích giáo dục chu đáo. Nào là những thắc mắc thầm kín của bạn trẻ, nào là Người con trai lấy vợ, người con gái lấy chồng… yêu nhau cần biết. Không thực hiện giáo dục giới tính trong nhà trường sẽ không giúp cho thế hệ trẻ kiến thức cần thiết, biết sống cho đẹp với giới mình nếu thực hiện việc giáo dục này không có sự tinh tế về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục thì lại có hại. Thế hệ trẻ sẽ tìm đến những nguồn thông tin thiếu tính khoa học và hành động tiêu cực.
PTS. Đặng Quốc Bảo – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.