Monthly Archives: April 2016

Những điều bí ẩn ở vực miếu quan lớn

Vực nước Miếu Quan lớn nằm trong hồ Phàn Dương nổi tiếng thuộc huyện Đô Xương, tỉnh Giang Tây Trung Quốc, phía Nam chắn bởi núi Tùng Môn, phía Bắc kéo tới huyện thành Tinh Tử, dài cả thảy là 24 km. Trên bờ phía đông cả thảy là 24 km. Trên bờ phía đông có một ngôi miếu cổ rêu phong, tàn tạ, dân quanh vùng gọi là Miếu Quan lớn và chính vì vậy mà vực nước nằm ngang phía dưới cũng mang cùng tên ấy. Theo truyền thuyết thì vua Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương đã từng triển khai trận chiến một mất một còn với kẻ thù của mình là Trần Hữu Lượng ngay trên hồ Phàn Dương này. Có một lần giao tranh, quân Chu Nguyên Chương đại bại thục mạng và giữa đường đã gặp một tiên ông. Lão tiên ông đã sai một con rùa lớn tới cứu, rước Chu Nguyên Chương lên bờ, chỗ miếu Quan lớn bây giờ. Nhờ đó mà Chu Nguyên Chương thoát nạn, tập hợp tàn quân, phục hưng lực lượng, chuyển thay tình thế và cuối cùng đã đánh bại Trần Hữu Lượng, lên làm hoàng đế triều Minh. Cảm cái ân cứu sống người của rùa thần, nhân dân quanh vùng đã lập một ngôi miếu thờ, gọi là Miếu Quan lớn. Kể từ đó về sau, thuyền bè mỗi khi đi ngang qua vực nước này, các ngư dân đều đứng trước mũi thuyền, dõi mắt thành kính về phía miếu và cắt tiết gà trống mang theo thuyền, nhỏ huyết xuống hồ để cúng tế rùa thần. Nghe nói ngôi miếu này linh thiêng lắm, thuyền nào ra điều coi thường, bổ báng, không thắp hương khấn vái và không cắt tiết gà trống để cúng tế rùa thần, sẽ không tránh khỏi thuyền đắm, bè tan, của mất, người chết… Đời này thuyền đời khác, việc tế lễ nơi đây đã thành tập quán của nhân dân quanh vùng. Nhưng rồi cắt tiết gà trống nhỏ xuống sông, thắp hương khấu đầu cúng vái thành tâm đến mấy, mà số phận bi thảm của ngư dân suốt bao đời vẫn chẳng hề được cải thiện, gió xoáy sóng thần, thuyền đắm người chết ở nơi đây là chuyện thường thấy từ cổ chí kim… Không ai có thể thống kê được đã có bao nhiêu thuyền bè chìm nghỉm nơi đây với bao nhiêu mạng người đã trở thành mồi rỉa cho cá. Trong thế kỷ 20 này, chỉ mới tính trong mấy chục năm từ thập kỷ 60 trở lại đây, chỉ riêng ở vực nước đã có hơn 100 chiếc thuyền bị lật và chìm nghỉm xuống đáy hồ một cách bí ẩn, kéo theo sinh mạng của những người chân sào vào vòng nước xoáy. Đầu những năm 60, một chiếc thuyền đánh cá nhổ sào từ bến Tùng Môn Sơn đi ngược về phía bắc tới vùng vực nước Miếu Quan lớn, thuyền vừa lướt đi một quãng xa bỗng mất hút trước những cặp mắt của toán người từng đứng trên bến dõi theo, con thuyền chìm nghỉm xuống đáy hồ và cả mười mấy người đi theo đều bị làn nước sâu hút nuốt chửng. Ngày 15 tháng 3 năm 1985, một chiếc thuyền trọng tải 25 tấn mang số 41838 bỗng bị mất tích trong làn sóng dữ cách Miếu Quan lớn chừng 3 km về phía Nam, ngay lúc 6 giờ sáng. Ngày 3 tháng 8 năm 1985, hai chiếc thuyền loại trọng tải là 20 tấn của Công ty vận tải đường sông, huyện Tiến Hiền tỉnh Giang Tây, khi vừa tới vùng nước gần Miếu Quan lớn, cùng lần lượt bị kéo xuống đáy hồ một cách bí ẩn. Cùng trong ngày cũng trong vùng nước ấy còn có 12 chiếc thuyền lớn nhỏ khác chịu số phận thê thảm tương tự. Ngày 13 tháng 9 cùng năm, một chiếc thuyền gắn máy chở đầy luồng và gỗ súc, gỗ tấm của tỉnh An Huy khi đi ngang qua Miếu Quan lớn cũng bất ngờ bị lật chìm. Những người trên bờ đều tận mắt nhìn thấy những người trên thuyền vội ôm lấy những cây luồng, súc gỗ trôi nổi ra sức vùng vẫy, kêu cứu, vì có phao cứu hộ là những cây luồng, súc gỗ ấy nên cuối cùng họ đều may mắn thoát chết, lên được bờ rồi mà ai nấy đều bàng hoàng, tưởng như trong cơn ác mộng, hồn vía lên mây! Chỉ riêng trong năm 1985 ấy, vực Miếu Quan lớn đã nhận chìm trên 20 chiếc thuyền. Năm 1988, cũng có tới trên 10 chiếc thuyền nữa chung số phận… Đối với những người dân đánh cá và dân sông nước trên các thuyền vận tải thì vực Miếu Quan lớn quả đã trở thành một cửa tử, vậy thì dưới làn nước mênh mang ấy có chứa đựng điều thần bí gì? Những rủi ro, tai nạn khủng khiếp liên tiếp xảy ra đã khiến cho các nhà khoa học chú ý tới khu vực này. Vào giữa những năm 1970, đã có người tận mắt chứng kiến vào lúc hoàng hôn hôm ấy, có một khối phát sáng hình xoáy ốc rất lờn sừng sững di động trên không trung phía tây hồ Phàn Dương, lâu tới 8,9 phút. Chính quyền địa phương đã từng báo cáo hiện tượng lạ lùng này lên trên, nhưng các ngành hữu quan cấp tỉnh và trung ương chưa có lời giải thích gì về hiện tượng này. Vì thế có người đã đoán rằng, rất có thể là đĩa bay của người ngoài hành tinh đã lai vãng tới vùng vực Miếu Quan lớn, lặn xuống và hoạt động dưới đáy hồ Phàn Dương sâu thẳm, gây ra những sự kiện đắm tàu thuyền không sao hiểu nổi. Vấn đề đã trở nên rối rắm, phức tạp, tới mức chẳng biết đâu mà lần. Vậy là sự bí ẩn ở Vực Miếu Quan lớn trên hồ Phàn Dương rốt cuộc là cái gì? Phải chăng dưới đáy hồ có loài ma quái xuất hiện? Cả một mớ câu hỏi đặt ra khiến ngay cả các nhà khoa học hàng đầu của Trung Quốc cho tới nay vẫn chưa có thể đưa ra một lời giải thích chính thức!.
Bùi Hữu Cường – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.

Khả năng kỳ lạ của con người

Tại Zim – ba – bu – ê và Bootx – oan, bàn chân của một số thành viên bộ lạc chỉ có độc nhất 2 ngón. Những người đà điểu này, như tên thiên hạ đặt cho họ, không hề tàn phế. Họ có thể mang vác bình thường, trên những chặng đường dài nhiều cây số. Tại Miến Điện phụ nữ thuộc bộ lạc Padaung và Caren vẫn duy trì tập tục kéo dài cổ bằng cách đeo vòng đồng. Bằng cách này, họ có thể kéo cổ dài đến 0,4 mét. Khả năng chịu đựng của cơ thể con người cũng đáng là ngạc nhiên. Thông thường con người có thể chết, nếu thân nhiệt hạ xuống tới 35 độ C. Trong khi thực tế không ít người từng sống dưới 16 độ C… Trái tim một ngư dân Na uy ngừng đập tới 4 giờ, khi ông ngã từ boong tàu xuống vùng biển đóng băng. Khi vớt được nạn nhân tim vẫn ngừng đập, thân nhiệt hạ xuống là 24 độ C. Nhưng ngay sau khi cấp cứu nạn nhân khỏe lại bình thường. Đầu năm 1990, tại Atlanta của Mỹ từng chứng kiến trường hợp một bệnh nhân da đen 52 tuổi với chứng rối loạn thân nhiệt. Trong khi nhiệt độ ngoài trời 32 độ C, thì ông sốt tới 46,5 độ C. Sau 24 ngày điều trị, ông xuất viện với thân nhiệt bình thường và hoàn toàn khỏe mạnh. Theo thí nghiệm của lực lượng không quân Mỹ, con người ở trần có thể chịu đựng tối đa nhiệt độ là 204,4 độ C. Trái lại, nếu mặc trang phục dày, có thể chịu được 260 độ C. Nhìn chung con người không khó khăn nhiều, khi phải chịu sức nóng đến 140 độ C. Để so sánh, nước đã sôi ở 100 độ C. Trong khi đó, tại vùng Aghia Elen ở Hy Lạp hàng năm kỳ lễ hội thánh Công – xta – tin, người ta vẫn dạo bộ quanh đồng lửa trại, mà nhiệt độ trung bình cao hơn 800 độ C. giới chuyên gia cho rằng, con người có thể sống tối đa là 30 ngày bằng thức ăn độc nhất là đường và nước. Nhưng chàng trai người Anh Barbieri đã sống tới 382 ngày tới lúc người lả đi độc nhất với điều kiện dinh dưỡng như thế. Có điều, trọng lượng của Barbieri giảm từ 214 kg xuống còn 81 kg. Với việc đẻ đứa con thứ 55, năm 1981, bà Leontina Albina lúc đó là 56 tuổi, ở Chi Lê đã đoạt danh hiệu người đàn bà mắn đẻ nhất hành tinh. Trong đàn con đông đúc ấy, có 5 cặp sinh 3. Thế mới biết khả năng của con người thật là đáng gờm.
Tính cách của người hình thành từ lúc trẻ thơ
Người ta có câu: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”. Các nhà bác học Mỹ cho rằng họ có thể xác định một cách chính xác cá tính của những người lớn tuổi ngay từ khi họ mới 3 tuổi. Nhà bác học Mỹ Silva cho biết họ đã làm thí nghiệm cho thấy nhiều đứa trẻ có các tính lúc nhỏ nhưng vẫn giữ tới lúc trưởng thành, thậm chí có người giữ tới lúc già 80 tuổi. Các nhà bác học cũng cho biết họ có thể đoán biết được những đứa trẻ này sau có thể thành tội phạm ngay từ lúc chúng mới 3 tuổi. Các nhà bác học Tân Tây Lan đã tiến hành làm thí nghiệm đối với hơn 1 nghìn đứa trẻ sinh năm 1972 và năm 1973. Cứ hai năm họ lại tiến hành kiểm tra một lần. Đến năm chúng 15 tuổi thì cứ 3 năm họ tiến hành kiểm tra một lần. Dưới đây là một số phát hiện đáng lưu ý qua thí nghiệm của các nhà bác học như sau: những đứa trẻ sinh thiếu cân thì trí lực của chúng kém phát triển và những đứa trẻ không có khả năng tập trung trí lực cao thì khi trưởng thành, tỉ lệ phạm tội cao tới 30%. Những đứa trẻ là con của những bà mẹ là cán bộ nhân viên nhà nước thường tương đối thông minh hơn so với những trẻ khác. Những trẻ thuận tay trái hay ta phải không có ảnh hưởng gì đến tính cách của chúng sau này.
Khánh Nam – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.

Những kỷ lục của làng điện ảnh thế giới trong 100 năm qua

Năm 1995, là năm môn nghệ thuật thứ 7 bước vào tuổi bách niên. 100 năm là một giai đoạn ngắn ngủi đối với các loại hình nghệ thuật khác. Nhưng với điện ảnh là cả quãng thời gian dài với biết bao thay đổi. Từ chỗ phim câm với những cảnh giật cục như những anh hề làm xiếc trên màn ảnh, Kino hiện đại đã đưa người xem vào thế giới kỳ ảo, đầy hương sắc và với cảm giác sống thật sự. Vượt qua chặng đường tới 100 năm làng điện ảnh thế giới có biết bao kỳ tích và biết bao nhiêu là kỷ lục đáng ghi nhớ. Sau đây là những kỷ lục của môn nghệ thuật thứ 7 mà báo Sunday Time vừa xếp hạng hồi cuối tháng 12 vừa qua. Số tiền cao nhất trả cho một vai diễn hiện tại đang giữ ở mức là 50 triệu đô la Mỹ. Nó thuộc về nam diễn viên Jake Nicolson trong vai Người đàn ông tồi của đạo diễn Time Berton. Còn Marlon Brando chỉ xuất hiện trên màn ảnh có 20 phút với thời gian chuẩn bị là 12 ngày mà đã thu về tới 3,5 triệu đô la Mỹ từ bộ phim Superman. Hiện đang giữ kỷ lục về sự phức tạp và tốn kém cho một cảnh quay là bộ phim viễn tưởng “Cuộc gặp mặt với người ngoài hành tinh” của đạo diễn Stiven Spilberg làm năm 1977. Cảnh dàn dựng, phòng nằm được bài trí trên diện tích mỗi chiều dài là 6 km rưỡi với 2125 mét vuông kính màu các loại. Với cuộc gặp mặt của Stiven chỉ còn có thể so sánh với tòa lâu đài danh cho Robin Hude năm 1922 của đạo diễn Duglas Ferbens hay ngôi đền của các thánh Hindu trong phim không thể dung thứ vào năm 1916 do D. Griffit dàn dựng. Bộ phim rẻ nhất thế giới là tác phẩm của giấc mộng tan biến của Úc quay năm 1927. Chỉ với 300 đô la các nhà làm phim đã cho ra sản phẩm được người xem thích thú. Đối thủ của “giấc mộng…” trong cuộc cạnh tranh để giành danh hiệu ít tốn kém nhất là “Người nghệ sĩ lang thang” của đạo diễn Robert Rodringes mất có vẻn vẹn 7 nghìn đô la Mỹ. Vụ làm phim thua lỗ lớn nhất kể từ trước tới nay thuộc về hãng United Artists. Chi phí cho bộ phim “Cổng trời” quay năm 1980 hết 57 triệu đô la Mỹ nhưng Micheal Trimino chỉ thu về được là 1,5 triệu đô la Mỹ và vì thế United artists đã bị phá sản. Gần đồng cảnh với United artists là hãnh 20th Centery Foxs khi dàn dựng bộ phim nổi tiếng Cleopatre năm 1963. Chi những 44 triệu khoảng 200 triệu theo thời giá hiện thời nhưng tiền bán vé thu về không đủ buộc hãng phải bán tất cả đất đai và bất động sản tại Los Angeles mới đủ trả nợ. Trong khi đó bộ phim kinh dị nói về tương lai toàn màu xám xịt “Người khùng tên Maks” của Úc lại có số tiền lãi lớn nhất. Chi phí tất cả cho bộ phim chỉ có 350 nghìn đô la Mỹ mà “người khùng tên Maks” đem về những 100 triệu và đưa nam diễn viên Mel Gibson lên đỉnh cao nền điện ảnh thế giới. Cùng ngang hàng với “Người khùng…” có bộ phim câm “Cuộc diễu hành lớn” của King Vider sản xuất năm 1925. Tác phẩm nghệ thuật nói về cuộc chiến thế giới thứ nhất này đã mang lại 22 triệu tiền lãi. Vụ làm ăn thua lỗ lớn nhất là hợp đồng công ty Sony của Nhật mua hãng phim Colombia mà theo đó Sony sẽ dùng Colombia đưa lên màn ảnh để quảng cáo cho các sản phẩm điện tử của công ty. Chỉ trong vòng 5 năm thực hiện hợp đồng, theo đuổi chiến lược quảng cáo rầm rộ đó Sony đã mất 3,2 tỷ đô la. Nếu Sony ném tiền cho quảng cáo mà không thu gì về thì hãng Universal lại là một điển hình trong nghệ thuật thu hút khách hàng. Bỏ ra 68 triệu đô la Mỹ để quảng cáo nhiều hơn những 8 triệu so với chi phí sản xuất, nhưng đạo diễn Stiven Spilberg đã thu về gần một tỷ đô la Mỹ tiền lãi với bộ phim “Công viên khủng long” vào năm 1993. Bộ trang phục đóng phim đắt nhất thuộc về Elirabet Taylor dùng trong bộ phim Cleopatre với toàn bộ chi phí hết là 194800 đô la Mỹ. Người đạo diễn đầu tiên trong lĩnh vực điện ảnh trở thành triệu phú là Michael Nicols với bộ phim “Sinh viên tốt nghiệp” vào năm 1967 và được vinh dự nhận giải Oscar cao quý. Diễn viên danh giá nhất hiện nay S. Stallon đã ký hợp đồng với hãng Universal Pictures đóng trong 3 bộ phim với giá diễn xuất là 60 triệu đô la Mỹ sẽ được quay vào năm tới. Nơi giá một nụ hôn đắt nhất nhưng nhân phẩm lại rẻ nhất la Hollywood. 50 nghìn đô la Mỹ cho một cái hôn còn phẩm giá lại không đáng nửa đô la. Hollywood là vậy đó Merylin Monro, ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thế giớ nhận xét.
DN – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.

Nhìn lại đợt phong học hàm vừa qua – Phần 4

Thông thường, một người ở Đại học, phong được giáo sư, ít nhất là đã giảng dạy 30 năm. Con số khổng lồ hàng vạn giờ giảng dạy, gấp mấy chục lần giờ quy định cho người nghiên cứu, chả nhẽ không đáng được thêm một điểm nào hay sao?
Cách tính một bài báo trên dưới 10 trang lại bằng cuốn sách nghiên cứu, một chuyên khảo trên dưới vài trăm trang thì thật là khó hiểu? Trong thực tế phải viết ít nhất là 10 bài báo chững chạc, thì mới dựng nên được một cuốn sách đúng đắn. Đó là chưa kể có khi viết hàng trăm bài báo, cũng vẫn chưa có khả năng viết một chuyên khảo triển khai một vấn đề có hệ thống. Việc cào bằng bài báo với sách nghiên cứu, tự nó, còn bao hàm một sự dễ dãi không hề quy định Phó giáo sư, nhất là giáo sư phải có ít nhất một sách chuyên khảo để có thể đúc kết và triển khai một tư tưởng học thuật một cách có hệ thống chặt chẽ và phong phú.
Trên thế giới này, có lẽ không có nước nào lại để cho người có học hàm, học vị thấp hơn thậm chí có 1 trong 2 loại phó lại đi xét duyệt cho người có học hàm học vị cao hơn. Nếu đến nay, mà vẫn chưa nhận ra chỗ cực kỳ trái khoái này, thì có lẽ nên đối sách với một việc rất gần gũi. Gần đây, các hội đồng chấm luận án Phó tiến sĩ, dần dần đã không chấp nhận các ủy viên chỉ là Phó tiến sĩ, hoặc phó giáo sư. Ấy thế mà việc xét duyệt cho các Phó giáo sư và giáo sư là những người thầy đã, đang và sẽ có trách nhiệm hướng dẫn các phó tiến sĩ, tại sao lại có thể tùy tiện đến thế! Trở lên chỉ là 10 điểm tối thiểu. Nhưng điều đáng mừng là văn bản pháp quy năm 1995 của Hội đồng học hàm Nhà nước đã khẳng định trở lại những điều vốn có trong các quyết định của Hội đồng HV – CDKH trước kia, như Phó giáo sư phải có học vị Phó tiến sĩ, giáo sư thì phải có Nghiên cứu sinh bảo vệ thành công… Như thế là đã mặc nhiên công nhận những điều thực hiện công nhận những điều thực hiện phi pháp trong đợt phong trước, rất đáng hoan nghênh. Mặc khác, phần nào những điều phi lý đã được thay đổi và đưa vào văn bản pháp quy. Như trong mẫu đăng ký có thêm mục quá trình giảng dạy kiêm nhiệm của cán bộ nghiên cứu với các chi tiết. năm dạy quyết định kiêm nhiệm giảng dạy số… ngày… Nơi dạy, môn dạy, đối tượng, số giờ dạy…hiển nhiên ai man khai, hoặc chứng nhận màn khai những điều này đều phải bị truy tố trước pháp luật. Những hắn tam cứ giả định rồi đây các điều pháp quy sẽ được tuân thủ triệt để thì những cảnh tượng trớ trêu lại xảy ra. Những đối tượng vừa được lọt ra ngoài vòng pháp quy và công lý, liền lập tức trở thành những chủ thể thuyết lý và hành pháp cho những đối tượng khác. Thế đấy, hậu quả sai lầm của quá khứ bao giờ cũng nhanh chóng đè nặng lên hiện tại và tương lai. Một vấn đề có tính quy luật rất đáng ngẫm nghĩ tiếp tục đối với những ai thực sự quan tâm đến thực chất của nền khoa học của đất nước nghìn năm văn hiến này.
GS. Phượng Lựu- Trí Thức Trẻ – số 8 – tháng 2 – 1996.

Nhìn lại đợt phong học hàm vừa qua – Phần 3

Viện trưởng viện khoa học xã hội ở Trung Quốc, Hồ Thằng, nhà khoa học thứ thiệt, có trước tác đẳng thân khi sang thăm nước ta, cũng tự giới thiệu là nghiên cứu viên, thế thối. Ở Pháp thì gọi là giám đốc nghiên cứu tương đương với giáo sư. Ngay Liên Xô và cả phe xã hội chủ nghĩa trước đây cũng không hề phong giáo sư cho cán bộ nghiên cứu ở các viện. Ở đây không hề có nghĩa là bên nào hơn bên nào, mà là chuyện chính danh, là tính chất chức nghiệp mà mỗi chức danh ấy bao hàm danh từ Professeur có họ hàng với động từ Professer, có một nghĩa là dạy học. Nếu tùy tiện gộp lại thì sẽ gây ra sự bất đồng và bất tiện cho cả hai bên với những quy định phi lý, gượng ép tiếp theo. Muốn làm giáo sư, cho nên buộc người nghiên cứu phải có 50% giờ giảng dạy cụ thể phải có ít nhất số giờ của 7,5 năm giảng dạy, bởi vì theo quyết định số 19/HV – CDKH, muốn làm giáo sư bên các Trường, nếu la phó tiến sĩ, thì đã có ít nhất là 15 năm làm công tác giảng dạy. Nhưng theo tiêu chuẩn của Bộ giáo dục và đào tạo, thì Phó tiến sĩ chuẩn bị lên giáo sư mỗi năm phải dạy 270 giờ, trong đó một nửa số giờ lý thuyết. Như thế, tính ra người nghiên cứu muốn trở thành giáo sư, chí ít phải có 2 nghìn giờ giảng dạy, trong đó trên dưới một nửa lý thuyết, một nửa thực hành. Mà lý thuyết và thực hành đều có tầm quan trọng riêng, không thể thay thế nhau được. Việc quy đổi ra thành giờ lý thuyết chỉ là cho tiện về mặt hành chính và tài chính, chứ hoàn toàn không có ý nghĩa khoa học, nhất là khoa học về đào tạo. Vậy thì căn cứ vào đâu mà hội Học viện – CDKHNN lại chỉ định người nghiên cứu ở các viện, muốn phong giáo sư chỉ cần trên dưới 3 trăm giờ, và không hề có yêu cầu nào về tỷ lệ của lý thuyết và thực hành. Phải nói đây là một điều cực kỳ phi lý, tùy tiện hết mức. Nhưng ngay số giờ chỉ có tính chất tượng trưng qua quyết này, cũng rất ít người nghiên cứu đạt được, gây ra tình trạng mang khai khá phổ biến. Ai man khai cụ thể là do phẩm chất đạo đức của từng người. Nhưng phải thừa nhận rằng nguyên nhân chung là do yêu cầu phi lý, không có thể và không cần thiết, khiến người nghiên cứu khó lòng hiện được. Rõ ràng đây là một điểm bộc lộ rõ nhất tính bất khả thi của việc phong chung học hàm cho cả hai giới. Cần phải đi tìm một cái tên khác cho học hàm của giới nghiên cứu. Mặc dù học giả cũng như nghệ sĩ, vấn đề là cái tên của riêng mình nói Einstein là quá đầy đủ rồi, cần gì phải hàm, vị để ăn theo, nhưng nếu muốn, mà lại không thích lắm cách gọi Tàu Nghiên cứu viên, thì theo cách gọi Tây giám đốc nghiên cứu. Nghe mới đầu hơi lạ tai, nhưng nhất định sẽ quen dần như Thống đốc ngân hàng, giám đốc thẩm tòa án…. Dù thế nào mặc lòng cũng không vì sự ngập nhằng của tên gọi, mà lại gây ra biết bao nhiêu tấn bi hài.
Việc quy định người giảng dạy phải có 50% số lượng công trình của người nghiên cứu là tuyệt đối đúng, bởi vì một thực chất của giảng dạy đại học là nghiên cứu khoa học. Nhưng vấn đề bất công phi lý là ở chỗ, tại sao đối với người nghiên cứu, ngoài số lượng tiêu chuẩn ra, còn bao nhiêu công trình được tính thêm điểm, nhưng đối với người giảng dạy, lại không dám quy định tổng số giờ tiêu chuẩn, để tính thêm điểm thừa giờ cho họ.
GS. Phượng Lựu- Trí Thức Trẻ – số 8 – tháng 2 – 1996.

Nhìn lại đợt phong học hàm vừa qua – Phần 2

Chính vì không làm đúng chỉ thị của Chính phủ, cho nên việc cấp chứng chỉ tương đương phó tiến sĩ còn đẻ ra nhiều chuyện phi lý mang tính hài hước về thời điểm, cách thức và nhịp độ tiến hành, mà không sao kể xiết! Tất nhiên, đây chỉ là nói về việc cấp chứng chỉ tương đương, chứ còn về người được cấp chứng chỉ ấy, phải được công nhận theo từng trường hợp cụ thể, không nên vơ đũa cả nắm.
Cũng trong quyết định số 19/HV-CDKH về tiêu chuẩn 4 của giáo sư có ghi rõ: “Đã có NCS bảo về luận án thành công”. Cũng không hề có quyết định mới nào của Chính phủ hoặc của chính hội đồng học viện – CDKHNN thay đổi tiêu chuẩn này của giáo sư cả. Ấy thế nhưng hàng loạt người được phong giáo sư vừa qua chưa hề có NCS đã bảo vệ thành công bao giờ. Thậm chí có hội đồng chuyên ngành, gần như 100% thành viên được phong giáo sư hoàn toàn chưa có tiêu chuẩn này.
Quyết định số 17/HV – CDKH có ghi rõ Chủ tịch Hội đồng tư vấn chuyên ngành hoặc liên ngành phải là người có học vị tiến sĩ và các chức danh khoa học là giáo sư. Trường hợp cá biệt, mới là người chỉ có học vị phó tiến sĩ và chức danh khoa học phó giáo sư. Nghĩa là đến trường hợp các biệt cũng phải là người có cả học hàm học vị, dù là cấp phó. Ấy thế, nhưng có vị Chủ tịch hội đồng chuyên ngành cực kỳ quan trọng chỉ có học hàm phó giáo sư mà thôi.
Chỉ thị của Thủ tướng số 258/TTg ngày 27 tháng 8 năm 1980 về việc tiếp tục thực hiện việc công nhận chức vụ khoa học đối với cán bộ giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học có nêu rõ: “Không đề nghị công nhận chức vụ khoa học đối với những cán bộ quản lý mà hiện nay và sắp tối không tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học”. giá mà chỉ thị này ra muộn thì hay biết mấy, làm cho nhiều trường hợp đã rộng khắp vẫn hợp pháp. Tiếc thay, cho dù chỉ thị có ra đời muộn 10 năm, vẫn cức thấy có trường hợp vi phạm. Tuy nhiên, riêng tôi, rất khâm phục và quý trọng các vị lãnh đạo quản lý bận trăm công nghìn việc, đã quyết tâm giành thời gian thích đáng, để một mặt, đem những tinh hoa trí tuệ, của mình truyền lại cho thế hệ sau bằng những giáo trình hoặc chuyên đề nghiêm túc, mặt khác lại bằng những công trình rất có chất lượng không ngừng bồi đắp cho khối tinh hoa ấy len đến tầm cỡ giáo sư.
Những điều phi lý
Sản phẩm trực tiếp và chủ yếu của người giảng dạy là con người. Sản phẩm trực tiếp và chủ yếu của cán bộ nghiên cứu là những công trình, và do đó, điều quan trọng nhất đối với họ là phải được đánh giá bằng những học vị. Những người nổi tiếng về khoa học ở nước ngoài, nếu không giảng dạy, thì học cũng rất tự hào và chỉ có thể tự giới thiệu học vị là tiến sĩ này nọ. Đến thăm nước ta, hình như họ hơi buồn vì ít gặp được những đối tác đồng học vị, nhưng lại vô cùng kinh ngạc vì luôn phải đối diện với các giáo sư với mật độ cao trong giới quan chức nước ta. Trong lúc đó, ở nước họ, ngay những giáo sư đại học, khi rời khỏi nhà trường, trở thành những công chức hoặc chính khách, thì cũng còn tự giới thiệu học vị mà thôi, như cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ, tiến sĩ Kitxingo, hoặc Tổng thư ký Liên hiệp quốc đương nhiệm, tiến sĩ Budrot Galy… Tất nhiên cũng có một số nước phong học hàm cho người nghiên cứu, nhưng được gọi bằng một cái tên khác. Chẳng hạn ở Trung Quốc ngày nay, học hàm coa nhất trong giới nghiên cứu gọi là nghiên cứu viên, tương đương với giáo thụ tức là giáo sư ở Việt Nam.
GS. Phượng Lựu- Trí Thức Trẻ – số 8 – tháng 2 – 1996.

Nhìn lại đợt phong học hàm vừa qua – Phần 1

Gần như một mỹ tục, một đợt phong học hàm mới đang được tiến hành. Như thế, công việc lại càng phải nghiêm túc và chính xác gấp bội. Do đó, việc rút kinh nghiệm cái đã qua, nhất là đợt phong vừa rồi năm 1991, một cách trung thực và đầy trách nhiệm là vô cùng cấp bách. Đúng như một đồng chí lãnh đạo đã từng nhận xét đại lý rằng, có biết bao nhiêu vấn đề nan giải, Đảng và nhà nước trông cậy ở giới khoa học… mà bây giờ cũng đã phong giáo sư – phó tiến sĩ khá đông đảo, nhưng vẫn chưa giải đáp được gì nhiều….
Những điều phi pháp
Trong quyết định số 19/HV – CDKH, về tiêu chuẩn 2 của giáo sư có ghi rõ: “Đã có học vị tiến sĩ, nếu là Phó tiến sĩ thì phải có chức vụ khoa học là Phó tiến sĩ”. Như thế muốn được phong giáo sư, thì phải có học vị thấp nhất là phó tiến sĩ. Tuyệt nhiên không hề có quyết định mới nào của hội đồng bảo trợ hoặc của chính hội đồng xây dựng học viện và CDKHNN thay đổi tiêu chuẩn học vị này của giáo sư cả. Ấy thế nhưng hàng loạt giáo sư được phong vừa qua, đã bỏ qua tiêu chuẩn này. Thậm chí có hội đồng chuyên ngành, 100% thành viên được phong giáo sư đều là theo tình trạng như vậy. Rất dễ dàng thống kê và rất nên công khai tỷ lệ chung này là bao nhiêu, chứ hơi đau đi nghe ngóng những dư luận xì xào. Các việc sau đây cũng nên như vậy.
Về tiêu chuẩn học vị của Phó tiến sĩ, thì đúng là trong quyết định số 19/HV-CDKH, mặc dù vẫn khẳng định phải có học tiến sĩ, phó tiến sĩ, nhưng có thêm một đoạn như sau: “Nếu cán bộ khoa học chưa có học vị phó tiến sĩ, thì phải trình bày các công trình khoa học của mình trước Hội đồng khoa học chuyên ngành cấp Nhà nước được Họi đồng đánh giá có trình độ tương đương. Rồi những việc làm sau đó kể cả đối với giáo sư diễn ra đúng như trong công văn số 3874/SĐH, về việc bảo vệ công trình để cấp chứng chỉ tương đương, do Vụ trưởng của Vụ sau Đại học thuộc bộ giáo dục và đào tạo tức là một cơ quan cấp thấp mà nằm ngoài hội đồng Học viện – CDKHNN ký ngày 10 tháng 11 năm 1990, và có nói rõ việc này chỉ có giá trị để xét chức danh khoa học, ngoài ra không có giá trị gì khác và chỉ thực hiện trong 2 năm 1990 đến năm 1991. Rõ ràng là việc làm này trái với các quyết định của Chính phủ. Quyết định 224/TTg, về việc đào tạo trên đại học trong nước có viết: “Việc đào tạo trên đại học ở trong nước nhằm đảm bảo đạt học vị Phó tiến sĩ và tiến sĩ khoa học… Đối với những cán bộ khoa học, kỹ thuật đã có những công trình khoa học có giá trị… thì không phải làm luận án, mà được hội đồng chấm thi xem xét các công trình đó và công nhận. Quyết định số 162/CP. Về hệ thống, chức vụ khoa học và tiêu chuẩn các chức vụ khoa học… có minh định rõ về tiêu chuẩn học vị của phó giáo sư chứ không phải của giáo sư và có kèm theo chú thích như sau: “Phó giáo sư là có trình độ tiến sĩ hoặc phó tiến sĩ khoa học đối với những cán bộ chưa có học vị tiến sĩ hoặc phó tiến sĩ, mà có trình độ tương đương, thì cần tổ chức việc công nhận học vị trước khi công nhận chức vụ khoa học… Có thể thấy nhà nước ta, mà nước nào cũng vậy, tuyệt nhiên không hề có chủ trương cấp chứng chỉ tương đương là phó tiến sĩ mà chỉ chủ trương xét trình độ tương đương, để công nhận học vị hẳn hoi. Học vị được công nhận này, hiển nhiên có giá trị đối với việc phong học hàm, nhưng đồng thời còn có giá trị độc lập, có thể dùng vào việc khác, kể cả việc phong học hàm ở bậc tiếp tho. Nhưng xét riêng trong bối cảnh lúc bấy giờ, thì cũng chính học vị Phó tiến sĩ được công nhận hẳn hoi này mới đúng chuẩn của phó giáo sư, chứ không phải loại chứng chỉ tương đương nào khác và việc công nhận học vị theo hình thức không kinh quan làm luận án này, vốn đã có Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp được giao quyền hướng dẫn tiến hành qua Thông tư số 824/QLKH ngày 4 tháng 5 năm 1982.
GS. Phượng Lựu- Trí Thức Trẻ – số 8 – tháng 2 – 1996.

Chứng minh thư trong tương lai

Chứng minh thư bằng các loại vân trên cơ thể con người
Khoa học trinh thám hiện đại càng ngày càng phát triển về lĩnh vực vi mô, ngoài vân tay mà chúng ta đã quen thuộc ra, ngũ vân gồm vân mùi, vân tiếng, vân môi, vân mắt, vân máu là chứng minh thư toàn diện mà khoa học phá án ngày nay đang coi là một thủ đoạn quan trọng.
Vân Mùi: mùi vị còn lưu lại ở chỗ cũ
Thân người nào cũng có mùi, khi người ấy đi khỏi một nơi nào đó, thì phân tử mùi hơi còn lưu lại trong không khí ở nơi đó. Căn cứ vào hiện tượng này, cảnh sát thu lượm không khí mang về phân tích thành phần hóa học, sẽ tìm ra vân mùi mà tội phạm còn để lại, sau đó gói vân mùi thu được vào trong một miếng vải sạch sẽ vô mùi bảo quản kín đáo để cung cấp cho chó săn phân biệt, tìm ra thủ phạm.
Vân tiếng hình thái khác nhau, âm lượng khác nhau.
Vân thanh học là môn khoa học tương tự như môn vân tay học vậy. Vân tiếng của con người rất khác nhau, khí quan thanh âm của mỗi người như môi, lưỡi, họng, vòm mũi, răng… khi phát âm mỗi ngời một khác nhau có những hình dạng khác nhau và dung lượng khác nhau. Do đấy thanh âm do khí quản phát ra có những đặc điểm khác nhau. Khoa học kỹ thuật hiện đại biến thanh âm thành sóng điện, biến sống điện thành thanh âm, thông qua phân tích, miêu tả thanh âm thành các đồ án, qua so sánh nhiều lần, có thể tìm ra tiếng nói của người cần tìm trong vô vàn tiếng nói khác nhau. Do đấy, vân tiếng có thể trở thành căn cứ để tìm ra tội phạm.
Vân môi muôn màu muôn vẻ, nhưng suốt đời không thay đổi.
Vân môi là đường vân trên môi của mỗi con người. Mấy năm gần đây, các chuyên gia đã có nhiều phát hiện mới trong lĩnh vực nghiên cứu vân môi. Một bác sĩ Nhật bản sau khi nghiên cứu vân môi của mấy vạn bệnh nhân, rút ra kết luận như sau Vân môi của con người muôn màu muôn vẻ, không ai giống ai. Đường vân môi của nữ giới thường có hình lõm, nam giới có hình lồi. Cũng như vân tay, vân môi suốt đời không bao giờ thay đổi.
Vân mắt: võng mạc hiện ra biết ngay thật hay giả. Vân mắt là đường vân võng mạc trong mắt. Võng mạc thị giác là một kết cấu phức tạp, tinh vi. Kết cấu võng mạc của mỗi người một khác. Các chuyên gia dùng máy ảnh điện tử có thể chụp được hình ảnh võng mạc trong mắt con người, dùng nó để giám định từng người một. Các nhà khoa học Mỹ căn cứ vào đó chế ra chiếc máy kiểm tra vân mắt và được dùng vào trong quốc phòng và bộ máy cơ mật của nhà nước. Các nhân viên làm ở các ban cơ mật của nhà nước, trước khi được tuyển chọn vào đây làm việc, một máy ảnh điện tử hai ống kính sẽ chụp võng mạc của họ, thông qua mã hóa lưu trữ trong máy giám định. Sau này mỗi lần vào cơ quan, chỉ cần đưa mắt nhìn vào máy giám định, ấn nút một cái, võng mạc hiện ra, sẽ dễ dàng phân biệt giả hay thật. Việc giám định này có vẻ rất phức tạp, nhưng thật ra rất đơn giản, chỉ mấy giây là xong. Các chuyên gia cho rằng việc giám định này chính xác hơn giám định vân tay, sai số không đến một phần triệu, mà thủ tục đơn giản, mất ít thời gian, có hiệu quả trong việc phá án tìm ra thủ phạm.
Vân máu
Các nhà khoa học sau khi phát hiện ra máu người gồm có 4 nhóm là O, A, B, AB còn phát hiện thêm trong máu người có mấy trăm vật chất sinh hóa do gien di truyền xác định, có thể dùng để phân biệt huyết dịch khác nhau. Các nhà khoa học nhờ kĩ thuật xung mạch điện tử để tiến hành kiểm tra tổ chức huyết dịch trong cơ thể con người, có thể thấy được những vòng dải điện mạch, tức là vân máu. Vân máu của mỗi người không giống nhau, có thể phân biệt được người này với người khác, hiện nay các nhà khoa học dùng phương pháp phân biệt huyết dịch HLA để phân biệt quan hệ thân thuộc. HLA là tên gọi tắt của tế bào trắng trong cơ thể con người. Trong những người không có huyết thống thân thuộc với nhau, thì tuyệt đối không thể tìm thấy hai người có HLA hoàn toàn giống nhau.
Lê Huy Tiêu – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.

Bao giờ Việt Nam có thị trường chứng khoán

Theo định nghĩa nôm na, thị trường chứng khoán là một cái chợ mua bán cổ phiếu, trái phiếu. Cái chợ đó bao giờ sẽ xuất hiện ở Việt Nam.
Đã gọi là chợ thì phải có hàng. Trong chợ chứng khoán, hàng là các cổ phiếu, trái phiếu được mua đi bán lại theo giá trị thực của nó khi kẻ mua, người bán đã cân nhắc kỹ món hàng liệu có mang lại lợi nhuận hay không. Đây là yếu tố hàng đầu để có thể hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam. Thế nhưng theo những thống kê sơ bộ, cho đến nay số cổ phiếu ở Việt Nam là con số rất ít và trị giá của nó hiện cũng rất khiêm tốn! Từ thực tế trên, rõ ràng muốn có thị trường chứng khoán Việt Nam, chúng ta nhất thiết phải tạo ra hàng, theo ước tính tối thiểu cũng phải bảo đảm mỗi một ngày chợ họp cũng có thể lưu thông một số cổ phiếu trái phiếu trị giá chừng 40 triệu đến 50 triệu đô la Mỹ. Cũng cần nhắc lại rằng, thị trường chứng khoán thuộc loại nhỏ như Thái Lan con số này cũng là trên dưới 1 tỷ đô la Mỹ. Ngoài yếu tố hàng hóa như trên, muốn hình thành thị trường chứng khoán còn đòi hỏi phải có một hệ thống tổ chức và pháp lý đảm bảo cho thị trường hoạt động lành mạnh. Thí dụ, về mặt tổ chức cần phải hình thành Ủy ban chứng khoán quốc gia ở trung ương và địa phương. Về mặt pháp lý, phải có những định chế nhằm chống sự lừa lọc trên thị trường… Nhìn lại những yếu tố trên, cho đến nay, chúng ta phải nhìn nhận rằng tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp chậm, sự hình thành tổ chức lâm thời về chứng khoán quốc gia và các cơ sở pháp lý cho hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam tới cuối năm 1995 vẫn chưa có là các tác nhân cơ bản khiến Việt Nam chưa có thị trường chứng khoán vào năm 1996. Vậy, bao giờ nước ta sẽ có thị trường chứng khoán? Trả lời của một quan chứng cao cấp ngành Ngân hàng cho hay: Nếu ngay bây giờ chúng ta xúc tiến nhanh các công tác chuẩn bị thì cũng phải tới năm 1997 đến năm 1998. Còn nếu chậm nữa thì sang thế kỷ 21.
Dùng tên lửa vá trời một ý tưởng táo bạo
Theo thông báo mới đây, nhất của tổ chức khí tượng thế giới, độ dày của tầng Ozon trên bầu trời nam cực đang mỏng và thu hẹp tới mức báo động. So với 1 năm trước, năm 1994 báo hiệu nhiều điểm xấu đối với loài người. Các lỗ hổng Ozon ngày càng tăng và hiện để hở một khoảng trời rộng 20 triệu km vuông, gấp 2 lần diện tích châu u. Tình trạng tầng Ozon bị bào mỏng ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của các sinh vật dưới mặt đất. Theo tính toán, cứ bị bóc 1% bề dày thì tầng Ozon để lọt xuống mặt đất một lượng tia cực tím tăng 1.3%. Nguyên nhân dẫn tới việc hình thành các lỗ hổng trên tầng Ozon đã được khoa học biết từ lâu nhưng chỉ gần đây chúng ta mới tận mắt nhìn thấy những lỗ hổng đó. Các nhà bác học Đức là những người đầu tiên khẳng định hiện tượng mất cân bằng trong vũ trụ là do hợp chất Clo gây ra. Họ còn báo động nếu không cẩn thận tầng Ozon sẽ bị co lại quá mức sẽ gây ra những hậu quả khó lường. Thủ phạm chính sản sinh ra nhiều chất Clo độc hại nhất phải kể đến các thiết bị làm lạnh như máy điều hòa, tủ lạnh, tủ đá… và công nghiệp điện tử. Các nguyên tử Clo trực tiếp phá hủy tầng Ozon bảo vệ trái đất gây ra các lỗ hỏng nguy hiểm. Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ lớp áo cho trái đất, nhiều quốc gia trên thế giới đã ký bản hiệp Monreal cam kết hạn chế thải các chất có chứa Clo vào không khí đảm bảo sự cân bằng trong khí quyển. Quá trình vá lại các lỗ thủng Ozon phải mất rất nhiều năm. Rumana Boicova, chuyên gia của BMO cho biết, ít nhất tới năm 2000 lượng Clo có trong khí quyển mới bắt đầu giảm nếu tất cả các nước thực hiện đúng hiệp ước Monreal. Với tốc độ như vậy chỉ tới năm 2050 tầng Ozon mới được phục hồi như cũ. Để đẩy nhanh tiến độ khôi phục lại tầng Ozon, vá lại những lỗ thủng, các nhà bác học đã nghĩ tới một giả thuyết. Có ý tưởng dùng tên lửa chở đầy Ozon rồi phóng lên xả vào những lỗ hổng vì cứ đợi quá trình tự vá tự nhiên thì rất lâu. Theo Krutzen, giám đốc viên hóa tại Đức thì ý tưởng này rất khó thực hiện vì nó rất tốn kém tuy có nhiều điểm đáng được tham khảo. Krutzen cho biết cách tốt nhất là nghiêm chỉnh chấp hành hiệp ước Monreal đặc biệt là đối với các nước có nền công nghiệp phát triển.
Hoàng Hải – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.

Virut gây mệt mỏi!

Tôi cảm thấy mệt rã rời thiếu phụ 40 tuổi phàn nàn. Đã thời gian dài, tôi ngủ từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng. Mặc dù vậy, tỉnh giấc, người tôi vẫn bã ra. Càng ngày, tôi càng cảm thấy yếu đi cùng cảm giác chán nản gia tăng…
Một cán bộ ngân hàng 30 tuổi bắt đầu, mỗi ngày làm việc bằng việc uống ba tách cà phê, nhưng không bao lâu sau, anh đã ngồi… ngáp vặt. Có thể dễ dàng cung cấp rất nhiều thí dụ về những người nạn nhân chứng mệt mỏi thường xuyên. Một khi phân tích nhật ký bệnh lý của các bác sĩ cơ quan xí nghiệp nhà nước nhất là bộ phận hành chính sự nghiệp, ở đơn vị nào cũng thế nguyên nhân mệt mỏi bao giờ cũng chiếm trên 60%. Thời gian kéo dài, với một số trường hợp nó trở thành gánh nặng tới mức người ta phải đầu hàng. Ngày thường mệt quên ăn sáng, ngày nghỉ ngủ quên cả giờ giấc. Mọi ham muốn làm việc đều tắt lịm. Họ là nạn nhân của Syndrome Fetigue Chronic tức là hội chứng mệt mỏi kinh niên. Nó được miêu tả trong từ điển y học cách đây không lâu và không dễ nhận biết. Điều này cũng dễ hiểu bởi cảm giác mệt mỏi thường là biểu hiện của nhiều nguyên nhân bệnh lý, từ viêm nhiễm đường hô hấp đến tình trạng lâm bệnh trầm trọng hệ tuần hoàn máu. Nhưng nếu bạn thấy những triệu chứng như mệt rã rời và mất trí nhớ, đau đầu, cơ bắp suy nhược… kéo dài lâu hơn 6 tháng, cầm chắc bạn đã là nạn nhân của Syndrome Fetigue Chronic. Thực ra căn bệnh đã tồn tại từ lâu. Song thường bị chuẩn đoán nhầm thành các chứng như suy nhược thần kinh hoặc suy nhược cơ thể. Theo bài viết đăng trên tờ times của Mỹ, hiện tượng bùng nổ Syndrome Fetigue Chronic đầu tiên được chứng minh cách đây trên 50 năm, ở Los Angeles. Năm 1940, nó tấn công 1.126 người ở Ai Len, và khoảng 1 trăm nghìn người ở Mỹ, Canada và niu – di – lân, năm 1984. 6 năm sau, tại Cambridge đã diễn ra Hội thảo khoa học về hội chứng này. Một trong số thành viên tham dự hội thảo, tiến sĩ Byron Hyde, Canada đã khẳng định mối đe dọa trầm trọng của Syndrome Fetigue Chronic và không loại trừ yếu tố họ hàng với nói là AIDS, nhất là trong số bệnh nhân của bệnh Syndrome Fetigue Chronic phát hiện được loại vi rút HHV – 6 hoặc HTLV – 2 thủ phạm gây suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể, tương tự như HIV. Thế nên chứng bệnh mỏi kinh niên trở thành mối nguy hiểm thực sự. Như vậy, chúng ta đã tìm ra thủ phạm. Cơ thể mệt mỏi, khi con người bị loại vi rút bí hiểm tấn công. Xuất hiện mối đe dọa mới, nhưng đồng thời kiến thức về loại vi rút mới cũng mang đến niềm an ủi nhất định. Bây giờ đã biết cần phải làm gì. Nhận mặt kẻ thù mới và tìm cách tiêu diệt chúng. Và khi đó, có thể chúng ta sẽ vĩnh viễn hết chứng mệt mỏi và cảm thấy khỏe khoắn hơn. Thế nhưng thực tế, té ra lại phức tạp hơn nhiều. Kết quả các công trình nghiên cứu ở Anh do tạp chí chuyên ngành Profil mới công bố, thì vi rút HHV – 6 chỉ phát hiện được trong số 2% bệnh nhân chứng bệnh mỏi kinh niên. Ở đại đa số còn lại, là dấu hiệu các bệnh thuộc hệ đề kháng của cơ thể. Tuy vậy sẽ giải thích thế nào hiện tượng mệt mỏi thường xuyên trong số bệnh nhân còn lại, khi về mặt khách quan họ hoàn toàn thuộc nhóm người khỏe mạnh hơn? Những công trình nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Pháp cho thấy rằng, thủ phạm chính dẫn đến căn bệnh trên là một số nếp sống và sinh hoạt đi ngược lại nhịp điệu sinh học tự nhiên của con người. Chế độ ăn uống thất thường, nhiều người vẫn cắt bớt thời gian ngủ cần thiết để thực hiện công việc ngoài giờ hoặc để xem vô tuyến. Đến khi toàn thân suy nhược lại ngủ li bì… nhịp điệu sinh học ngày đêm bị đảo lộn. Trường hợp xáo trộn ít xảy ra cơ thể sẽ quay về nhip điệu bình thường, nếu xảy ra thường xuyên cảm giác buồn bực tăng lên không ngừng, sẽ xuất hiện chứng đau đầu, mất ngủ. Thậm chí ngay chế độ làm việc 8 giờ liên tục ở châu u cũng trái với nhịp điệu sinh học của cơ thể, nó ấn định chu kỳ hoạt động tích cực và chu kỳ nghỉ ngơi quá ngắn so với tự nhiên. Sai lầm phổ biến khác là hiện tượng thiếu mối quan hệ con người với thiên nhiên. Con người lao động thiếu thư giãn, cơ thể đói không khí trong lành… Sự mệt mỏi bã người, đau đầu, thẳng hoặc thậm chí xuất hiện triệu chứng thân nhiệt ấm hơn bình thường là căn bệnh hay gặp nhất của nhóm người tham công, tiếc việc, tham vọng quá lớn, suốt đời say đắm theo đuổi sự thành đạt. Với những đối tượng này, một phút nghỉ ngơi, bất động bị coi như sự lãng phí không thể chấp nhận. Bởi thời gian là vàng. Hậu quả sớm sớm muộn rồi họ cũng trở thành nạn nhân của Syndrome Fetigue Chronic. Vậy nên mỗi người chúng ta hãy tự xem lại lối sống của mình một cách khoa học. Cảm giác buồn bực phải được nhìn nhận như trạng thái sinh học bình thường, như tín hiệu của cơ thể thầm nhắc chúng ta rằng, đã đến lúc phải nghỉ ngơi, đã đến thời điểm cần tạm dừng chân trong cơ lốc tiến đến sự thành đạt và giàu sang.
BS Trần Hoa Quỳ – Trí Thức Trẻ – số 7 – tháng 1 – 1996.