Monthly Archives: March 2016

Phụ nữ không còn là phái yếu – Phần 2

Nếu xu hướng việc làm tiếp tục thì đến năm 2005 lao động nữ và lao động nam sẽ bằng nhau. Ở các nước Tây u thị trường lao động ngày càng thuận lợi hơn đối với phụ nữ mặc dù nam giới vẫn kiếm tiền nhiều hơn và vẫn muốn làm việc. Ở các nước này số nam giới đứng ngoài thị trường lao động ngày càng tăng trong khi phụ nữ ngày càng làm quen và thích nghi với nhiều loại công việc hơn nam giới. Kết quả những cuộc nghiên cứu về nghề nghiệp ở phương Tây cho thấy tương lai phát triển việc làm mới dành cho phụ nữ là sáng sủa. Thí dụ, bộ lao động Mỹ dự đoán rằng 5 loại công việc phát triển nhanh nhất từ nay đến năm 2002 là chăm sóc dân cư, xử lý vi tính và dữ liệu, dịch vụ y tế, chăm sóc trẻ em và dịch vụ kinh doanh. Phụ nữ chiếm ưu thế trong tất cả các hoạt động này và tỷ lệ việc làm họ chiếm trong 5 loại công việc đó tương ứng như nhau là 79%, 68%, 70%, và 51%. Ngược lại, 5 loại công việc giảm nhanh nhất là đóng giày, chế tạo đạn dược, đóng tàu, thuộc da và cung cấp ảnh. Đây là công việc của nam giới và họ chiếm tới 2 phần 3 lực lượng lao động trong 5 loại công việc này. Có nhiều sự giải thích cho việc phụ nữ chiếm ưu thế trong việc làm phụ nữ có xu hướng được giáo dục tốt hơn, họ làm việc lâu hơn đặc biệt phụ nữ có con, các công việc trả lương thấp tăng nhanh và phụ nữ sẵn sàng nhận làm hơn nam giới những người vẫn tự côi mình như trụ cột của gia đình, phụ nữ có thiên hướng thành thạo về mặt xã hội cần thiết cho các công việc dịch vụ. Nhiều nhà lý luận cho rằng các khái niệm việc của đàn ông hoặc việc của đàn bà nay đã lỗi thời. Một điều nghịch lý là trong khi phụ nữ sẵn sàng làm những việc được trả lương thấp thì đàn ông lại không chịu làm những công việc của phụ nữ được trả lương cao. Thí dụ ở Mỹ có chưa đến 5% đàn ông làm hộ lý mặc dù lương trung bình lúc khởi điểm là từ 30 nghìn đến 35 nghìn đô la Mỹ. Trong khi đó 96% phụ nữ làm công việc này với mức lương khoảng 23 nghìn đô la Mỹ. Tình hình này cũng diễn ra tương tự ở châu u. Ở Anh tỷ lệ nam giới làm y tá là 11,6%. Ở Tây Ban Nha nam thư ký văn phòng giảm từ 1/3 kể từ năm 1980 mặc dù thời kỳ này tỷ lệ thất nghiệp cao. Như vậy là phụ nữ đang đuổi kịp nam giới trong lĩnh vực kinh tế việc làm của phụ nữ tăng nhanh hơn nam giới không muốn làm việc của phụ nữ. Cả hai lĩnh vực này đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến những nam giới không có chuyên môn và trình độ thấp kém. Hiện nay nhiều việc làm đòi hỏi phải có bằng đại học hoặc phải được đào tạo nhiều hơn là không có bằng cấp nào. Ở 10 thành phố lớn nhất của Mỹ, số việc làm đòi hỏi học sinh học hết phổ thông trung học giảm đi một nửa kể từ năm 1970. Hai phần ba việc làm mới tạo ra ở Mỹ kể từ năm 1989 là cần phải có trình độ chuyên môn và quản lý. Bộ lao động Đức dự tính rằng đến năm 2010 chỉ có 10% việc làm ở Đức phù hợp với những người lao động đơn giản. Năm 1976 tỷ lệ này là 35%. Năm 1970 số người lao động chân tay nhiều hơn số người lao động trí óc ở hơn một nửa các OECO đến năm 1990 tình trạng này chỉ còn ở Tây Ban Nha. Về nguyên tắc, những đàn ông không có tay nghề hoặc lao động đơn giản chấp nhận việc họ có thể ở nhà để vợ họ đi làm nghề y tá chẳng hạn. Trong thực tế điều đó không xảy ra. Bởi vì mặc dù có sự thay đổi xã hội lớn trong 30 năm qua, những quan điểm về giới tính truyền thống vẫn còn bảo thủ. Một cuộc điều tra ở các nước EU cho thấy: hơn 2 phần 3 người châu u là 85% ở Đức, 60% ở Đan Mạch cho rằng người mẹ một con ở nhà tốt hơn người bố. Và điều tra này còn cho biết nhìn chung quan điểm của các nước Châu u là công việc của các bà mẹ chăm sóc con cái, giặt quần áo và làm nội trợ các ông bố kiếm tiền, chơi thể thao….
Minh Dũng – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Phụ nữ không còn là phái yếu – Phần 1

Các nhà nhân chủng học đã tiến hành nhiều cuộc điều tra và đã rút ra kết luận rằng trong tương lai phụ nữ có nhiều việc làm hơn nam giới, học hành ở trường tốt hơn nam giới. Và một vấn đề xã hội đang đặt ra là ngày càng có nhiều nam giới không được giáo dục, thất nghiệp và sống độc thân.
Mặc dù nam giới chiếm một nửa hoặc hơn số sinh viên trong các trường đại học ở hầu hết các nước trừ Mỹ nhưng học sinh gái ở các trường tiểu học và trung học lại tốt hơn so với học sinh nam. Thí dụ ở Anh và xứ Wale các em gái đạt điểm cao hơn các em nam trong các kỳ thi ở các lớp 5, 6, 7, 9 và lớp 11. Ở Mỹ học sinh nam học đúp một lớp nhiều hơn học sinh nữ và trượt trường cao trung bình nhiều hơn học sinh gái hai lần. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên còn đang được bàn cãi sôi nổi. Bởi vì trong một số môn học ở độ tuổi nào đó học sinh trai vẫn học tốt hơn học sinh nữ thí dụ môn toán ở lứa tuổi 16. Theo truyền thống con trai làm gì, cũng không bằng con gái ở trước tuổi dậy thì nhưng thường đuổi kịp sau tuổi dậy thì. Bây giờ tình trạng này đã thay đổi con trai không bao giờ đuổi kịp con gái nữa sau tuổi dậy thì. Các em học sinh 16 tuổi ở Anh và xứ Wale đã tiến hành một loạt cuộc kiểm tra gọi là GCSES, một tiêu chuẩn để tính tỷ lệ phần trâm ai đoạt loại A, B hoặc C trong 5 môn học hoặc hơn. Kết quả cho thấy 48,1% học sinh gái đạt các loại nói trên so với 39% học sinh nam. Ở một số vùng nghèo hơn của nước Anh sự chênh lệch này còn lớn hơn. Thí dụ ở Hác Ni một vùng nghèo nằm ở phía đông Luân Đôn chỉ có 14,9% em trai đạt so với 30,2% em gái. Ở hầu hết các nước châu u xu hướng học sinh gái học tốt hơn học sinh nam cũng xuất hiện. Năm 1995 ở các nước thuộc Liên hiệp Châu u số học sinh gái tốt nghiệp phổ thông trung học cao hơn học sinh trai. Học sinh gái cũng có xu hướng học tiếp nhiều hơn học sinh trai dù đã hết tuổi đến trường. giới mày râu cũng đang đứng trước những thách thức về tìm việc làm khó khăn hơn phái yếu. Điều này không có ý nghĩa là triển vọng có việc làm của phụ nữ tốt hơn so với nam với. Phụ nữ đang cải thiện triển vọng việc làm của họ nhiều hơn so với nam giới. Hơn nữa thị trường việc làm lại hướng về phụ nữ nhiều hơn. Từ năm 1980 đến năm 1992 phụ nữ chiếm 3 phần 5 số tăng trong lực lượng lao động Mỹ và 2 phần 3 tăng trong lực lượng lao động ở các nước châu u. Từ năm 1990 đến năm 1993, trong 10 nước lúc đó trong 12 nước thành viên EU số phụ nữ thất nghiệp giảm. Tuy nhiên vấn đề đối với nam giới không phải là phụ nữ có nhiều việc làm hơn mà là một tỷ lệ đáng kể nam giới đang bỏ thị trường làm việc của họ và phụ nữ thế chân vào đó. Trong những năm 60 hầu như toàn bộ nam giới đi làm trong khi chưa đến 50% phụ nữ. Hiện nay tình hình đã khác. Tỷ lệ phần trăm nam giới đến tuổi lao động ở EU không nằm trong lực lượng lao động tăng từ 8% năm 1968 lên đến 22% năm 1993. Trong khi đó xu hướng đối với phụ nữ ngược lại: giảm từ 58% xuống còn 44% trong cùng thời kỳ. Ở Mỹ tình hình có khác chút ít, lực lượng lao động nữ tăng từ 43% năm 1970 lên khoảng 60% hiện nay trong khi lực lượng lao động nam giảm tương đối thấp từ 80% xuống 75% cùng thời kỳ tương ứng.
Minh Dũng – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.