Monthly Archives: March 2016

Tâm lý học thuốc bổ và nguyên nhân gây bệnh

Những tình cảm tiêu cực như tâm trạng bực bội thường nhật do nguyên cớ khó chịu nào đó đối với sức khỏe không ít tác hại hơn so với sự bất hạnh thực sự. Thí dụ như cái chết của người tân hay sự nghiệp làm ăn đổ vỡ.
Theo giáo sư Richard Lazarus thuộc trường Đại học tổng hợp Berkelly của Mỹ, những phiền toái vụn vặt như thế lại chính là thủ phạm dẫn đến cái chết gậm nhấm từ từ. Thí dụ điển hình của phiền toái vụ vặt mà giáo sư R. Lazarus dẫn giải là những cú điện thoại đổ vào thời điểm khi chúng bận bù đầu, ông khách không mời đổ bê tông lúc chúng ta chuẩn bị ra khỏi phòng làm việc… Tình cảm tiêu cực hậu quả của li dị, thí dụ có thể dàn trải ra hàng trăm cú stress nhỏ, thường nhật. Còn trạng thái bị chọc tức liên tục là cội nguồn phong độ tồi tệ, dẫn đến suy sụp sức khỏe. Những nghiên cứu được thực hiện trong 20 cảnh sát ở Florida chỉ rằng, đầy kịch song stress thảng hoặc liên quan đến vụ, thí dụ truy bắt tội phạm thường ít mệt mỏi và dễ chịu hơn công việc đơn điệu, nhẹ nhàng nhưng không thích thú, thí dụ như ngồi bàn giấy. Theo nhà tâm lý học Arthur Stone ở New York, trong thời gian từ 3 đến 5 ngày nếu là nạn nhận của những phiền toái vụn vặt, bạn sẽ rất dễ bị viêm đường hô hấp. Thủ phạm thường là mâu thuẫn với vợ hoặc chồng, con cái, đồng nghiệp, căng thẳng trong cơ quan xí nghiệp và những vấn đề cá nhân. Tiến sĩ Jenice Kiecolt Glaser, nhà tâm lý học thuộc trường Đại học Tổng hợp bang Ohio xác định được rằng sau mỗi vụ cãi, vã trong gia đình, khả năng đề kháng của cơ thể cả vợ và chồng đều suy giảm đáng kể, còn stress lúc thi cử tạo nên những lỗ hổng trong hệ thống đồng hóa của sinh viên. Hoạt động căng thẳng của các doanh nghiệp khi thực hiện những phi vụ làm ăn lớn là thủ phạm đặc biệt nguy hiểm đối với bệnh tim. Theo Journal of American Medical Association họ là đối tượng bị nguy cơ bệnh tim mạch 7 lần lớn hơn người bình thường. Những nghiên cứu cũng khẳng định rằng, hành vi nuốt hận gây tổn thương cho sức khỏe lớn hơn việc để bùng nổ phản ứng bột phát. Không hiếm kỷ niệm đau buồn có thể để lại dấu vết suốt cuộc đời. Với nữ bệnh nhân hen suyễn, thí dụ, sẽ xuất hiện hiện tượng suy sụp dung lượng lá phổi tức thì, khi nhìn lại tấm ảnh chụp đám tang người cha.
Tâm lý học cuộc sống
Các nhà tâm lý học đánh giá rằng, ít nhất là 50% bệnh nhân gõ cửa bác sĩ cho thấy dấu hiệu bệnh tật chủ yếu vì hậu quả rối loại cảm xúc. Tình cảm giữ vai trò quan trọng trong quá trình xuất hiện một số bệnh đường tiêu hóa, huyết áp cao, đau cột sống, viêm da, béo phì và hen suyễn. Trong thời gian điều trị bệnh lao phổi, việc duy trì không khí bình an có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bất cứ tình huống căng thẳng nào cũng hạn chế khả năng lành bệnh, thậm chí còn khiến bệnh tình trầm trọng hơn. Trạng thái tâm lý người bệnh cũng đóng vai trò quan trọng đối với bệnh tiểu đường. Không có gì lạ, khi nhóm tác giả, cuốn sách Tâm lý học và cuộc sống phỏng đoán rằng, không ít trường hợp hiệu quả điều trị của thuốc chỉ chiếm là 50%, 50% còn lại là vai trò của trạng thái tâm lý. Hiện nay người thầy thuốc giỏi không chỉ quan tâm đến cá nhân người bệnh, mà cả điều kiện tình cảm xã hội của họ. Yếu tố tâm sinh lý có thể tác động đến quá trình phát triển của bệnh tật. Kết quả một công trình nghiên cứu khẳng định rằng, những nữ điện thoại viên 12 lần nhiều hơn đối tượng khác là nạn nhân các bệnh đường hô hấp. Họ hay bị ốm đau nhất bởi hàng ngày phải gánh chịu quá nhiều sức ép tâm lý và thể lực thí dụ như stress và virut những nhân tố dường như không gây nên rối loạn trầm trọng một cách riêng rẽ. Tuy nhiên, khám phá đáng ngạc nhiên hơn là mối nghi ngờ rằng, những vết thương tình cảm thời ấu thơ có thể là một trong những thủ phạm gây bệnh ung thư hoặc bệnh máu trắng. Như Tiến sĩ L. Leshan viết trên tạp chí Annals of the New York Academy of Sciences, trong 450 bệnh nhân ung thư, mà ông nghiên cứu, có tới 72% so với 10% bệnh nhân không ung thư là nạn nhân của những nỗi đau tình cảm thời ấu thơ.
Dẫu có thể né tránh, bạn cũng không thể loại trừ mọi tình huống phiền toái vụn vặt. Thế nên, khả năng ứng phó hữu hiệu với stress vẫn là phương pháp tự vệ tốt nhất. Trong mọi trường hợp, cần phải duy trì thái độ bình tĩnh, ôn hòa. Giống như áp lực thái quá đổ lên đầu người ốm nặng để anh ta huy động tất cả sức mạnh chiến thắng bệnh tật có thể gây hậu quả trái ngược với mong muốn, trạng thái hoảng loạn khi gặp nguy hiểm, cũng có tác hại như thế. Như tiến sĩ Irving Janis chứng minh trong cuốn sách: “Psy Pological stress, sự sợ hãi thái quá có thể gây tác hại đối với sức khỏe lớn hơn cả bản thân tác động của bệnh tật. Tất cả đều cho thấy rằng, trạng thái lo âu vừa phải”, đúng lúc có tác dụng huy động cơ thể đối nhiều có hiệu quả với mọi thách thức, thí dụ với người bệnh trước ca phẫu thuật. Theo tiến sĩ I. Janis mức lo ấu ra phải giúp bệnh nhân kế hoạch phản ứng của cơ thể, hạn chế stress và tạo ra đột dạng đề kháng cảm xúc. Quá dẫn đến những phản ứng sinh lý phức tạp, không thể kiểm soát được, có hại cho sức khỏe. Ngược lại, nếu hoàn toàn thờ ơ, không có cảm giác lâu, cơ thể sẽ đối đầu với hậu quả tồi tệ hơn. Thế mới biết bản chất đỏng đảnh của tâm lý con người.
BS Bích Thủy – Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

TSH chìa khóa của tình yêu

Biết bao thế hệ các nhà khoa học và các nhà thơ trong suốt chiều dài lịch sử loài người đã cố đi tìm lời giải cho một câu hỏi lớn: thế nào là tình yêu? Nhưng cả khoa học sinh học, tâm lý học, xã hội học đều chưa thể tìm ra được cơ chế và động lực của tình yêu. Nhà triết học Nga nổi tiếng P. D. Uspenxkij đã từng viết: “Đối với khoa học nghiên cứu sự sống, mục đích tối thượng của tình yêu là duy trì sự tiếp nối của giống nòi. Vì vậy giữa hai loại người khác giới nam và nữ tạo hóa đã cài sẵn “ma lực” cuốn hút để họ đến với nhau. Nhưng khoa học biết chắc rằng sức mạnh cuốn hút đó lớn hơn rất nhiều so với cường độ cần thiết để tái sản xuất giống. Những kẻ si tình sẵn sàng lao vào các cuộc phiêu lưu tình ái chắc chắn không phải để có được mụn con nhằm nối dõi tông đường. Gần đây các nhà nghiên cứu trường sinh học đang rọi những tia sáng đầu tiên vào bức màn bí ẩn này của trái đất. Chính họ cũng bước đầu giải thích được hai trạng thái tình cảm gần gũi mà xa lạ nhau. Đó là tình si và tình yêu. Theo quan niệm hiện đại về trường sinh học, bao quanh cơ thể mỗi con người có trường sinh học. Trường đó là tổng hợp của năng lượng phát ra từ cấu trúc cơ thể. Cũng như các trường khác, trường sinh học có tập hợp gồm nhiều tần số và biên độ các mức năng lượng cao thấp, mạnh yếu khác nhau. Khi con người giao tiếp với nhau, các trường sinh học cũng tương tác với nhau. Mỗi khi tần số mức năng lượng nào đó của hai người gần trùng nhau, giữa họ xuất hiện sự thông cảm, cảm tình, quyến luyến nhau. Trong khoa học người ta gọi là sự cộng hưởng trong giao thoa. Nếu tần số trùng nhau, sự cộng hưởng diễn ra hoàn toàn, giữa hai con người tự nhiên bùng nổ một thứ tình cảm gắn bó, say mê nhau đặc biệt. Cường độ mức năng lượng ứng với tần số cộng hưởng cơ thể khuếch đại mạnh lên làm lấn át, làm suy giảm các mức năng lượng ở các tần số khác. Lúc đó con người rơi vào trạng thái si tình. Họ mất khả năng tỉnh táo, sáng suốt. Sự cộng hưởng trong si tình càng mạnh, trường sinh học càng bị mất tính chất điều hòa, cấu trúc năng lượng của toàn bộ cơ thể bị rối loạn. Theo các nhà khoa học, si tình là hàm số của thời gian: lúc đầu đạt tới đỉnh điểm, sau đó suy giảm dần. Hàm số đó ở từng con người không giống nhau. Ở một số người quá trình suy giảm diễn ra từ tốn, sau giai đoạn si tình họ vẫn giữ được tình cảm thân thiện ở mức “bạn bè”. Ở một số người khác, cơ thể không thích ứng được sự suy giảm, cấu trúc năng lượng của trường sinh học rất khó điều hòa trở lại, họ sẽ cảm thấy thất vọng, tan vỡ, thậm chí từ chỗ si tình nhau cuồng nhiệt họ có thể rơi vào trạng thái căm ghét nhau mà như cha ông ta thường nói “thương nhau lắm, cắn nhau đau” là thế. Ở một số người dưới tác động của nhiều yếu tố sự quan niệm về sự nghiệp, sở thích, công việc, con cái, quan hệ xã hội…cảm xúc si tình ban đầu được tiếp nối quá trình điều chỉnh tần số các mức năng lượng khác. Họ đạt được sự cộng hưởng của nhiều tần số. Lúc đó cấu trúc năng lượng của hai cơ thể tạo thành một bức tranh giao thoa hoàn mỹ. Si tình đã chuyển sang trạng thái tình cảm bền vững mà ta vẫn gọi là tình yêu. Tính cá thể của hai con người đã hòa quyện vào nhau, tạo thành một thực thể mới thống nhất. Tình yêu T không phải là phép cộng số học của hai người X và Y: T=X +Y là một hàm số T = F (X+ Y), trong đó X đã biến đổi thành X và Y biến đổi thành Y. Các nhà tâm lý học và xã hội học nói rằng tình yêu làm thay đổi con người là vì vậy. Tình yêu có thể khởi đầu bằng tình si, nhưng tình si không nhất thiết dẫn tới tình yêu. TSH của hai con người riêng lẻ đã tạo thành một trường chung, thống nhất, khá bền vững. Cấu trúc năng lượng của tình yêu có thể chống lại được các tín hiệu gây nhiễu. Nhưng cần nhớ rằng, cấu trúc đó ở trạng thái cần bằng không bền vững, luôn luôn cần được nuôi dưỡng. Sẽ là sai lầm tai hại cho những người yêu nhau không biết để tâm duy trì cấu trúc đó. Cơ sở của tình yêu là một loại vật chất đặc biệt cần được nuôi dưỡng, chăm sóc đặc biệt. Và ngược lại TSH của hai người yêu có tác động tích cực trở lại đối với từng cơ thể riêng rẽ, nó có tác dụng kích thích, khơi dậy những mức năng lượng khác còn tiềm ẩn trong mỗi con người yêu nhau thường cảm thấy trẻ trung, hào hứng, cởi mở, gần gũi với vẻ đẹp xung quanh. Những khả năng sáng tạo được khơi nguồn và phát triển. Con người cảm thấy mình có sức mạnh vô biên. P.D Uspenxkij cũng đã từng nhận xét: “Một khả năng sáng tạo của loài người đều xuất phát từ tình yêu”. Với quan niệm như vậy, tình yêu không bao giờ biết đến giới hạn của tuổi tác. Nó làm món quà đặc biệt của tạo hóa dành cho mọi lứa tuổi. Tình yêu cũng không chấp nhận người thứ ba vì quan hệ với người này là đã tạo ra một kênh rò rỉ và tiêu tán năng lượng sinh học sớm hoặc muộn sẽ làm cho TSH của tình yêu bị suy yếu và cảnh sống mòn sẽ khó có thể tránh khỏi. Tình yêu cũng xa lại với sự ghen tuông. Mỗi khi cảm xúc ghen tuông nảy nở, trong cơ thể mỗi con người xuất hiện một tín hiệu năng lượng phi điều hóa khá mạnh. Làm méo mó cấu trúc năng lượng hoàn mỹ của tình yêu. Nếu cảm xúc đó thường xuyên và có cường độ cao, nó có thể hủy hoại tình yêu. Tình dục cũng chỉ là một dải tần số có biên độ rất mạnh trong cấu trúc năng lượng của tình yêu, có tác dụng khuếch đại đối với các dải tần số khác nhau của TSH, nhưng nó không thay thế được TSH của tình yêu.
Nguyễn Ngọc – Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

Kế hoạch hóa gia đình đối với vị thành niên – Phần 2

Nhận thức chưa đúng: Ngay cả khi những người trẻ tuổi có được thông tin và tiếp cận được với dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình thì cũng còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp tránh thai của họ. Như phạm vi giao tiếp giữa các đối tượng, quan điểm về những vai trò xã hội và tình dục cũng như những điều cấm kỵ tự nhiên về sinh hoạt tình dục của họ. Ví dụ, trong nhiều nền văn hóa vấn đề quan hệ tình dục ít được bàn đến, thậm chí giữa hai vợ chồng. Những người trẻ tuổi chưa kết hôn rất ít khả năng thảo luận về các biện pháp tránh thai, nhiều thanh niên trẻ hiểu biện pháp tránh thai như một thứ đồ chơi cho thanh niên đã kết hôn nhưng chưa muốn có con. Một số nam giới và phụ nữ bản thân họ có thể không tiếp cận với biện pháp tránh thai vì họ tin rằng nó khuyến khích phụ nữ quan hệ tình dục bừa bãi. Hơn nữa, quan niệm xã hội lên án những cô gái có kế hoạch cho quan hệ tình dục, cộng với nhận thức rằng chương trình tình dục làm hư hỏng tình yêu và cơ thể không dừng sinh hoạt tình dục song có thể ngăn ngừa sử dụng biện pháp tránh thai. Quan niệm này làm tăng thêm sự nguy hiểm đối với các cô gái do những bệnh lan truyền tình dục và mang thai. Mặc dầu, phụ nữ trẻ đặc biệt là những người có bạn tình nhiều tuổi hơn có thể quá ngượng ngùng để thảo luận hoặc thương lượng việc sử dụng biện pháp tránh thai với bạn tình.
Dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình cho vị thành niên nên hay không?
Trước hết, chúng tôi trình bày quan điểm của phụ nữ về vấn đề này. Kết quả điều tra sức khỏe sinh sản năm 1995 cho thấy phần lớn phụ nữ đồng ý rằng thanh niên cần được thông tin về các biện pháp tránh thai, thậm chí phụ nữ nông thôn đồng ý về vấn đề này nhiều hơn phụ nữ thành thị. Điều đáng chú ý là, những phụ nữ thất học bản thân họ không được thông tin đầy đủ lại miễn cưỡng tán thành quan điểm này chỉ có 58% so với 79% số phụ nữ có học vấn phổ thông trung học trở lên tán thành thông tin về biện pháp tránh thai cho vị thành niên. Nhưng tình hình thay đổi rõ rệt khi bàn tới việc cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình cho vị thành niên. Khả năng này chỉ có được sự ủng hộ của đa số ở vùng đô thị và số phụ nữ có học vấn trung học. Điều ngạc nhiên là nhóm tuổi trẻ nhất là từ 15 tuổi đến 19 tuổi mà phần đông trong số họ thuộc vào nhóm đối tượng cần mở rộng dịch vụ này lại do dự nhiều hơn so với những phụ nữ lớn tuổi. Trong khi những phụ nữ ở nhóm tuổi 40 đến 49 tuổi tức là những bà mẹ của vị thành niên là những người đầu tiên ủng hộ nên phổ biến thông tin về Kế hoạch hóa gia đình là 95% tuy số lượng ủng hộ việc vị thành niên cần được tiếp cận với các dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình có ít hơn là 55%. Sự phản đối vị thành niên tiếp cận với dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình còn mạnh hơn ở những người cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình, như ở Bình Định chỉ có 22% phụ nữ có thái độ ủng hộ đối với việc cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình cho vị thành niên. Điều đó thể hiện rằng vấn đề Kế hoạch hóa gia đình đối với vị thành niên còn nhiều tranh cãi. Song nó cũng cho thấy phép biện chứng ở đây là dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình đối với vị thành niên là phù hợp với sự phát triển con người trong một xã hội đang phát triển như nước ta hiện nay.
Không nên duy trì một quan niệm kém hiệu quả trước một thực tại đang biến đổi nhanh chóng, khác xa với đời sống xã hội cách đây vài thập kỷ. Dù chúng ta cố áp đặt quan điểm cũ về tình dục đối với vị thành niên thì cũng không phủ nhận được một thực tế là lớp trẻ hôm nay ở lĩnh vực ấy đang rất cởi mở trong quan hệ khác giới. Một khi, vị thành niên có quan niệm thoáng về chuyện ấy thì chúng ta không thể cấm đoán được họ, mà chỉ có thể hướng dẫn họ đi đúng con đường cần đi, giáo dục cho họ có được những hành vi ứng xử thấm đượm tính nhân văn, và trang bị cho họ những hiểu biết đúng đắn về sự phát triển tâm sinh lý cũng như những kiến thức về Kế hoạch hóa gia đình để họ có được những biện pháp dự phòng chu đáo thì mới có thể giúp cho lớp trẻ hôm nay ngăn ngừa, hạn chế được những nguy cơ đe dọa đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, tình cảm hệ quả của sự thiếu hiểu biết trong sinh hoạt tình dục đối với lớp trẻ hôm nay. Bởi vậy cùng với việc trang bị tri thức về tình dục học, giáo dục giới tính, thông tin về các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình thì rất nên ủng hộ việc vị thành niên tiếp cận với dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình. Chẳng những vậy, họ cần được tư vấn cẩn thận và chu đáo về vấn đề này. Làm được vậy, chúng ta góp phần vào việc đảm bảo hạnh phúc và nâng cao sức khỏe sinh sản cho lớp trẻ hôm nay và cũng cho sức khỏe của thế hệ tương lai.
Hoàng Bá Thịnh – Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

Kế hoạch hóa gia đình đối với vị thành niên – Phần 1

Mới nghe, nhiều người sẽ hỏi: Có nên bàn về vấn đề này không và làm như vậy phải chăng là tạo điều kiện và khuyến khích lớp trẻ có cơ hội quan hệ tình dục thoải mái hơn? Việc cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình cho tuổi vị thành niên là một chủ đề gây ra nhiều ý kiến trái ngược nhau ở nhiều quốc gia. Tuy vậy, chúng tôi nghĩ rằng dù có né tránh không đề cập đến chủ đề này thì chuyện quan hệ tình dục trước hôn nhân cũng không còn là hiện tượng đơn lẻ trong độ tuổi vị thành niên ở nước ta hiện nay. Do vậy, chúng tôi cho rằng việc Kế hoạch hóa gia đình đối với vị thành niên rất được quan tâm đến vì sức khỏe sinh sản và vì hạnh phúc của thế hệ trẻ hôm nay.
Thực trạng sử dụng dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình ở tuổi vị thanh niên
Nhóm tuổi vị thành niên và cả những thanh niên trẻ khi có quan hệ tình dục thường ít sử dụng biện pháp tránh thai hơn những người trưởng thành, thậm chí ngay cả trong hôn nhân. Kết quả điều tra sức khỏe sinh sản Việt Nam năm 1995 cho thấy chỉ có 17% phụ nữ có chồng ở nhóm tuổi 15 đến 19 sử dụng một biện pháp tránh thai bất kỳ và 10% sử dụng một biện pháp tránh thai hiện đại. So với một vài quốc gia khác, tình hình cũng tương tự. Ví dụ, điều tra số phụ nữ ở độ tuổi từ 15 đến 24 ở châu Mỹ la tinh và vùng Caribe cho thấy tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai trong lần giao hợp đầu tiên dao động từ 4% đến 43% tỷ lệ này đối với nam giới cùng nhóm tuổi xê dịch từ 14% đến 31%. Tuổi vị thành niên có quan hệ tình dục nhưng lại ít sử dụng Biện pháp tránh thai, do vậy thường đẫn đến thai nghén. Ở Mexico gần 2 phần 3 số phụ nữ ở độ tuổi từ 18 đến 19 tuổi với kinh nghiệm tình dục trước hôn nhân nói rằng họ đã có thai ít nhất là một lần. Ở Việt Nam chưa có số liệu nghiên cứu chính xác về hiện tượng vị thành niên mang thai, song kết thúc thai nghén của các thiếu nữ dưới 18 tuổi ngày một nhiều, là điều đáng lo ngại.
Những lý do tại sao vị thành niên và thanh niên trẻ lại không sử dụng Biện pháp tránh thai nếu họ có sinh hoạt tình dục? Sau đây là một vài lý do chủ yếu.
Quan niệm của xã hội
Với những người chưa kết hôn, họ thường gặp những vật cản để có được dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình bao gồm cả sự phản đối của xã hội và do vậy họ ít có khả năng sử dụng Biện pháp tránh thai so với những người đã kết hôn. Ở nước ta, dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình mới chỉ dành cho phụ nữ có chồng, còn thanh niên chỉ có thể tiếp cận với những dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình khi họ lập gia đình. Người ta quan niệm rằng, việc cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình cho thanh niên độc thân sẽ khuyến khích họ có quan hệ tình dục bừa bãi. Quan niệm truyền thống Việt Nam cho phép điều này và đặc biệt phụ nữ không được có quan hệ tình dục trước khi cưới. Những người phản đối này nhấn mạnh một điểm là cộng đồng, đặc biệt là các bậc cha mẹ sẽ không chấp nhận việc cung cấp dịch vụ Kế hoạch hóa gia đình cho thanh niên.
Thiếu thông tin: Điều tra sức khỏe sinh sản năm 1995 cho hay những phụ nữ dưới 20 tuổi hiện có chồng biết về các Biện pháp tránh thai ít hơn những phụ nữ lớn tuổi. Sự thiếu hiểu biết này có thể dẫn đến việc không dùng biện pháp tránh thai. Nhìn chung, những người trẻ tuổi thường biết ít hoặc có thông tin không chính xác về khả năng sinh sản biện pháp tránh thai. Sự hiểu biết về khả năng tránh thai tính theo vòng kinh dược coi như hiểu biết về cơ sở sinh lý của chu kỳ kinh. Sự hiểu biết này còn ít ỏi, ngay cả ở các nước phát triển và còn hạn chế hơn ở những phụ nữ trẻ và phụ nữ nông thôn. Hai công trình dẫn ở cuốn “Tình trạng sức khỏe của phụ nữ Việt Nam” cho thấy rằng gần một nửa phụ nữ nông thôn không biết chính xác thời kỳ dễ thụ thai nhất. Bên cạnh đó, có một thực tế là, những thanh niên và vị thành niên có thể gọi tên các biện pháp tránh thai song họ thường không biết có thể kiếm được ở nơi nào hoặc sử dụng chúng như thế nào. Hơn nữa, họ thường nghe những tin đồn sai và nhận được những thông tin không chính xác biện pháp tránh thai thông qua nhóm bạn bè.
Hoàng Bá Thịnh – Trí Thức Trẻ – số 24 – tháng 6 – 1997.

Xả thân chống dịch hạch những người đi tiên phong – Phần 2

Ông ngủ chập chờn nghỉ ngơi rất ít. Ông nêu giả thuyết rằng bệnh truyền nhiễm và lây lan do một loài vi khuẩn độc là mầm bệnh không trông thấy được vì nó cực nhỏ. Ba tuần sau đó, họ cùng bắt tay thực hiện thí nghiệm chất bột khử trùng. Ông lấy quần áo người chết vì bệnh cho vào một căn phòng, đốt bột hun khói xông mù mịt đến ngạt thở. Rồi chính ông dành cho mình làm vật thí nghiệm để kiểm tra việc hun khói khử trùng đầy nguy hiểm. Ông về phòng mình cởi hết quần áo của ông rồi mặc quần áo của người vừa chết được xông khói vào. Vải vừa hun nóng đối cháy da thịt ông. Suốt đêm ông không ngủ được vì những vết bỏng gây đau nhức và trở thành những nhọt sâu chi chít trên người ông. Pogorotski trông thấy ông than vãn: anh sẽ chết vì những cái nhọt này, chứ chưa nói đến dịch hạch. Nếu dịch hạch đến không phải do chướng khí, do một lực siêu nhiên, một sự trừng phạt của thần thánh như toàn thế giới vẫn tưởng cho đến bây giờ, mà là do một vi khuẩn sống và độc hại gây nên thì nó phải bị giết chết bởi sự xông khói y học như đã làm. Vì thế không nên ngừng cuộc thí nghiệm. Cuộc thí nghiệm đau đớn được tiếp tục đến cùng. Khoa học nhận được một trong những thủ thuật dẫu còn chưa đầy đủ chống lại sự lan truyền dịch hạch, một bằng chứng đẹp đẽ về khả năng có thể tiêu diệt bệnh này, một chứng cớ đầu tiên và gián tiếp về bản chất sống của mầm gây bệnh, nó là nguyên nhân của tai họa ghê gớm nhất của nhân loại. Quan niệm thiên tài của Samoilovitch về sự tiêm chủng chống bệnh dịch hạch, quan niệm căn cứ trên ý tưởng về nguồn gốc sống của bệnh đã đẩy nhanh cả một thế kỷ nền khoa học thời ấy. Sau cuộc thí nghiệm đáng sợ ấy ít lâu, ông bị bệnh trong khi chăm sóc những bệnh nhân bị bệnh dịch hạch. Với ông đó là một cơ hội may mắn để xác nhận một lần nữa quyền lực thắng dịch hạch của việc tiêm chủng. Ông nói nếu không có những thí nghiệm của chúng ta, ý tưởng về tiêm chủng sẽ là một lập luận vu vơ của trí tưởng tượng. Nó chẳng để lại gì trong dấu vết lịch sử khoa học, chẳng giúp ích gì cho nhân loại. Quả nhiên ông khỏi bệnh. Samoilovitch biết rằng công việc của ông chỉ mới bắt đầu. Điều làm ông day dứt là không có ai để ký thác những tư tưởng và kỳ vọng của mình. I aguelski và Pogorotski đã chết những thầy thuốc trẻ bên ông ít ai chịu tin ông. Cuối cùng Hoffmann bác sĩ trưởng của ban tham mưu và bác sĩ Sturmer vốn ghét ông từ nạn dịch ở Maxcova những người được triều đình Petersbuorg sủng ái đã tìm cách xa thải ông. Ông bàng hoàng khi nhận được lệnh thải hồi. Sau Samoilovich đã có hàng chục nhà bác học tiếp tục cuộc chiến đấu chống dịch hạch cho đến cuối thế kỷ 19, khi nhà bác học A Yersin tìm ra vi trùng dịch hạch năm 1894 tại Hong Kong được gọi là vi trùng Yersin và từ đó, thuốc tiêm chủng phòng chống dịch hạch ra đời cùng những biện pháp phòng chống khác. Thế nhưng cho đến đầu thập niên của thế kỷ 20, ở Châu Mỹ vi trùng dịch hạch vẫn tấn công nhiều vùng rộng lớn, ở Châu Á chủ yếu ở Ấn Độ thuộc Anh lúc đó, chỉ trong 4 năm từ 1924 đến năm 1928 dịch hạch đã giết chết 1 triệu 27 nghìn người, còn ở Liên Xô cũ bệnh này biến mất và có thể coi như chấm hết, nếu vi trùng chỉ tồn tại trong thiên nhiên và không có những bọn đồng minh với chúng trong việc sử dụng vũ khí hóa học, vũ khí vi trùng để tàn sát con người.
Hoàng Nguyên Kỳ- Trí Thức Trẻ – số 22 – tháng 4 – 1997.

Xả thân chống dịch hạch những người đi tiên phong – Phần 1

Trong đời vua Justinien thế kỷ thứ 6, một nửa dân số của đế quốc La Mã phương đông đã chết vì bệnh dịch hạch. Từ năm 1347 đến 1350, chỉ trong 3 năm, một trận dịch hạch đã giết chết 60 triệu người. Từ đó, dịch bệnh khủng khiếp này lại xuất hiện từng thời kỳ, ở mọi lục địa thời Shakespeare, thế kỷ thứ 16 Newton, thế kỷ 17, các ông đã chứng kiến những trận dịch hạch hủy diệt hàng chục vạn người Anh, ngay cả ở Luân Đôn. Con số tử vong vì bệnh quái ác này trên thế giới ước tính còn cao hơn con số người chết của tất cả các cuộc chiến tranh lớn nhỏ cộng lại. Nhiều thế hệ nhà khoa học đã hy sinh thân mình, xông vào vùng dịch cứu chữa người bệnh và nghiên cứu thực địa, tìm cách đẩy lùi và tiêu diệt loại ác bệnh giết người và lây lan nhanh chóng này. Riêng nước Nga từ thế kỷ 18, đã có nhiều người dũng cảm đi tiên phong như thế. Năm 1770, bệnh dịch hạch phát sinh trong các đạo quân Nga đang đánh nhau với quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Moldavie. Các thầy thuốc đã ra sức ngăn chặn dịch bệnh nhưng nó vẫn lan nhanh sang Ukraine và Ba Lan, rồi sau mấy tháng, tràn vào Maxcova. Danilo Samoilovitch biết được tin đó khi ông sắp từ biệt trung đoàn Orenbourg, nơi ông là bác sĩ quân y trong chiến tranh Nga Thổ. Những người chứng kiến nói rằng người chết nằm đầy đường, thầy thuốc vì thiếu một số đã đi khỏi thành phố bởi họ không muốn chết. Ngay khi nhận giấy phép rời đơn vị, ông nhằm hướng Maxcova không dừng lại dọc đường. Lúc đó ông mới 25 tuổi. Vừa bị sốt rét, gầy yếu mắt trũng xâu. Nhưng là một người lính, ông còn là một nhà khoa học. Ông đã từng thấy dịch bệnh hoành hành giết chết hàng nghìn người trong chiến tranh. Ông có những ý kiến của ông về nguyên nhân của bệnh dịch hạch nên ông cần kiểm tra tính chính xác của nó bằng cách theo dõi lâu dài, tại chỗ trong lúc dịch bệnh xảy ra. Đến Maxcova, ông được phân về bệnh viện đặt trong tu viện Simon. Có một số bác sĩ không vào phòng bệnh hay thăm khám, đứng xa bệnh nhân hai mét, vừa nói vừa bịt mồm bằng một chiếc khăn tẩm giấm. Nhưng cũng có những thầy thuốc tận tâm. Chẳng hạn I. Pogoretski, O. Laguelski… Ông tập hợp họ lại thành một nhóm hết lòng chăm sóc người bệnh, ở lại lâu với từng người, hỏi han cặn kẽ, ghi chép đầy đủ, quan sát và bắt mạch rất kỹ những người nặng nhất và buộc các y tá thực hiện y lệnh rất gắt gao. Sau nhiều tuần làm việc căng thẳng như trong một trận đấu, ông không còn thì giờ để thở nữa, trong khi đó bệnh nhân lại được mang đến kìn kìn. Dù vậy ông vẫn dành thời gian ngồi kép kín trong phòng, cởi áo bờ lu và cất mớ tóc giả, sắp xếp lại trật tự các chuyện kể của người bệnh và những ghi chép của mình. Ông ghi nhận một điều trong số người khỏi bệnh c những bệnh nhân trước đó đã bị bệnh một lần. Mà số người này lại ít. Đó là một nhận xét chính xác và rất quan trọng. Ý nghĩ của ông lóe sáng, nếu một người đã bị dịch hạch một lần mà còn sống thì anh ta được bảo vệ khỏi bị lây bệnh lần sau, điều đó giống như khi người ta được tiêm chủng không? Các sự việc đó khẳng định rằng sau khi được tiêm chủng người ta không mắc bệnh đậu mùa. Với bệnh dịch hạch nó có xảy ra như thế không? Các bác sĩ và y tá chăm sóc bệnh nhân dịch hạch đã tự nhiễm bệnh này một cách không tự giác. Họ nhiễm bệnh dưới một hình thức suy giảm và gần như không cảm thấy gì đến nỗi sau đó, bệnh không còn nguy hiểm đối với họ nữa. Chính là từ nước Nga thông điệp đầu tiên đến với những xứ sở vừa bị dịch hạch tàn phá quả quyết rằng có thể thắng được bệnh này bằng tiêm chủng và khử trùng chống lây lan. Và các viện hàn lâm nước ngoài, kể cả Pháp đã viết về phát hiện quan trọng của ông, các sách viết về ông cũng thừa nhận ông là người đầu tiên đề xuất phương pháp tiêm chủng chống bệnh dịch hạch. Phương pháp nếu được chấp nhận và thực hiện sẽ là một việc tốt lành đối với loài người. Còn ông không quan tâm mấy đến vinh quang, ông đang mãi mê với những tư tưởng và công việc nghiên cứu.
Hoàng Nguyên Kỳ- Trí Thức Trẻ – số 22 – tháng 4 – 1997.

Biến con trai thành con gái – phần 2

Tuy nhiên, các bác sĩ đã khăng khăng là những tình cảm này là hoàn toàn bình thường và cho rằng bé Joan là cô gái đùa nghịch như con trai. Trong cuộc phỏng vấn do hai ông Diamond và Sigmundson tiến hành năm 1994 và năm 1995, chàng John lúc đó đã trả lời hai ông rằng: “Tôi đã nghĩ rằng tôi là người không bình thường hoặc là cái gì đó”. Mặc dù nhiều bạn trai không biết về chuyện giải phẫu của Joan, chúng chòng ghẹo Joan có cái nhìn như con trai và nghịch như con trai. Các phòng tám công cộng là bất tiện đối với Joan. Cô thích đứng khi đi tiểu tiện cho dù làm như thế thường gây bẩn quần. Ở Trường trung học cô Joan thường hay ở phòng nghỉ của các bạn giá khiến các bạn không muốn cho Joan ở lâu buộc cô phải sang phòng các bạn trai. Đến lúc đó Joan cảm thấy chắc chắn rằng mình là một chàng trai. Nhưng các bác sĩ và các nhà nghiên cứu về tâm thần không để ý đến những gì mà cô nói với họ và họ thúc ép cô hành động nữ tính hơn. Năm 1977, khi lên 14 tuổi Joan quyết định cô chỉ có hai sự lựa chọn: hoặc là tự tử hoặc là sống như một người đàn ông. Cuối cùng sau một cuộc đấu tranh đầy nước mắt, cha của Joan đã nói rõ cho cô sự thật lúc cô ra đời và sự thay đổi giới tính đối với cô. Bây giờ chàng John nhớ lại: “Lần đầu tiên tôi mới hiểu ra được tôi là ai và tôi là cái gì”. Với sự giúp đỡ của một nhóm bác sĩ mới, Joan trai qua hai cuộc giải phẫu để tạo lại dương vật, mặc dù nhỏ xíu và không có cảm giác của một bộ phận sinh dục bình thường. Sau lần giải phẫu thứ hai thay đổi giới tính này, các bác sĩ mới của chàng John khuyên gia đình chuyển đến một thành phố mới và trường học khác để bắt đầu lại. Nhưng lần này bố mẹ John không nghe theo lời khuyên của họ. Bởi vì bố mẹ John suy luận rằng rồi mọi người sẽ biết mọi chuyện. Sau một thời kỳ quá độ John đã hòa đồng với các bạn cùng tuổi khác hẳn với Joan ngày xưa. Một lần John hẹn hò một bạn gái và chàng đã thú nhận rằng cái của quý của mình có vấn đề và người bạn gái đã kể lại chuyện này với các bạn trong lớp. Nhưng các bạn học cũ của cô Joan đã không có ác ý lan truyền chuyện này. Sự việc nói trên khiến nhiều chuyên gia về y học ngạc nhiên. Nhưng nó là câu chuyện về sự dũng cảm của một chàng trai đã xác nhận quyền quyết định nhận dạng của chính mình. Rất tiếc rằng sau đó không có một nghiên cứu nào được công bố ngay sau khi John cự tuyệt sự thay đổi giới tính ngay từ đầu. Cho mãi đến khi hai ông Diamond và Sigmundson công bố kết quả nghiên cứu của họ thì câu chuyện cậu con trai John giải phẫu để trở thành bé gái Joan mới vỡ lở. Theo hai ông, hầu hết các trường hợp muốn trai biến thành gái như John đều không chấp nhận nhân dạng con gái của chúng vào lúc chúng đến tuổi dậy thì. Nhiều chuyên gia về y học cho rằng chưa hẳn như vậy. Một số chuyên gia khác khẳng định chưa có câu trả lời cho vấn đề trai thành gái.
Minh Dũng – Trí Thức Trẻ – số 23 – tháng 5 – 1997.

Biến con trai thành con gái – phần 1

Nhăm 1963 một em bé cắt bao qui đầu đã bị hỏng dương vật. Sau khi nhận được lời khuyên của Trường Y học Johns Hopkins ở Ban ti mo, bố mẹ em đã quyết định cố gắng đưa em trở lại cuộc sống bình thường bằng cách giải phẫu một cách chính xác để bộ phận sinh dục của em thành bộ phận sinh dục nữ. Bé trai này đã được cắt bỏ tinh hoàn và bộ phận sinh dục đã được giải phẫu thành âm đạo. Khi bé giá này lớn dần các phương pháp điều trị bằng hóc môn sẽ hoàn thiện quá trình biến con trai thành con gái. Trường hợp này đã trở thành một cái mốc trong sử biên niên của nghiên cứu về giới tính, là bằng chứng sống của lý thuyết phổ biến trong những năm 60 và 70 rằng nhân dạng giới tính là ở chuỗi phát triển liên tục và dưỡng dục là quan trọng hơn so với tạo hóa trong việc quyết định những vai trò của giới tính. Lúc bây giờ các chuyên gia cho rằng trẻ con sinh ra là giống trung. Hiểu biết chúng sớm hơn, ta có thể biến chúng thành giống theo ý muốn. Nhiều sách giáo khoa khoa học xã hôi và y học lúc bây giờ đã nói đến việc có thể biến con trai thành con gái và nhiều chuyên gia y học đã khuyên các bậc cha mẹ nuôi dưỡng con cái dù là trai hay gái bị tổn thương về bộ phận sinh dục. Tuy nhiên, điều mà các bác sĩ và các bậc cha mẹ đã không hề biết đến là sự kiện thay đổi giới tính nói trên trong thực tế đã thất bại hoàn toàn. Cuộc nghiên cứu được công bố mới đây trong những tư liệu của Y học tuổi thành niên, giáo sư Miton Diamond một chuyên gia về phẫu thuật và sinh học sinh sản của Trường đại học Ha wai và tiến sĩ Keith Sigmundson, chuyên gia về tâm thần học tại Bộ y tế Canada cho biết cậu bé được giải phẫu bộ phận sinh dục thành bộ phận sinh dục nữ nói trên mà họ gọi là bé gái Joan đã không bao giờ thích nghi với giới tính của nó đã được quy định. Và sự thật là Joan đã được giải phẫu một lần nữa để quay trở lại thành cậu bé John vào cuối những năm 70. Bởi vì bố mẹ John suy luận rằng rồi mọi người sẽ biết mọi chuyện. Sau một thời kỳ quá độ John đã hòa đồng với các bạn cùng tuổi khác hẳn với Joan ngày xưa. Một lần John hẹn hò một bạn gái và chàng đã thú nhận rằng cái của quý của mình có vấn đề và người bạn gái đã kể lại chuyện này với các bạn trong lớp. Nhưng các bạn học cũ của cô Joan đã không có ác ý lan truyền chuyện này. Sự việc nói trên khiến nhiều chuyên gia về y học ngạc nhiên. Bây giờ John đã có gia đình và là người cha của ba đứa con nuôi. Vậy sự thật này diễn ra như thế nào?
Hai ông Diamond và Sigmundson cho biết: Ngay từ đầu Joan đã chống lại cách cư xử đối với nó. Khi tập tễnh biết đi Joan đã cảm nhận có điều gì khác lạ. Lúc mẹ mặc áo váy xếp, Joan tìm cách xé bỏ. Bé gái Joan thích vui chơi với con trai và mê các đồ chơi dành cho con trai. Người ta nhớ lại rằng, có lần Joan đã vào một cửa hàng mua một chiếc ô và khi ra mang theo một khẩu súng máy đồ chơi. Khi học lớp hai nữ học sinh Joan đã nghĩ rằng mình là con trai hơn là con gái.
Minh Dũng – Trí Thức Trẻ – số 23 – tháng 5 – 1997.

Nghiên cứu các dạng thấm tường

Cùng công tác tại viện khoa học kỹ thuật xây dựng – Bộ xây dựng, họ có điều kiện đi sâu nghiên cứu và theo dõi thực thế tác hại của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm đối với các công trình xây dựng ở Việt Nam. Nhưng trên hết là lòng yêu nghề, sự say mê sáng tạo đã thôi thúc họ bắt tay nghiên cứu đề tài này.
Hiện tượng thấm ẩm tường gạch bao ngoài là một trong các dạng hư hỏng khá phổ biến ở các công trình xây dựng hiện nay, đặc biệt là các công trình dân dụng có chiều dày tường mỏng là 110 mm hoặc phần tường dưới xây bằng gạch lỗ. Khí hậu nóng ẩm như ở nước ta thường gây ra sự nóng ẩm như ở nước ta thường gây ra sự giãn nở nhiệt giữa các kết cấu vật liệu làm chúng nút vỡ và thấm nước từng phần tường gạch bao ngoài. Sự cố hư hỏng trên làm giảm đáng kể tính thẩm mỹ và giá trị sử dụng của công trình. Biện pháp, chống thấm, ẩm cổ truyền thường là đập ra, trát lại hoặc quét phủ bằng nước xi măng. Cách sửa chữa này hoặc rất tốn kém hoặc không bảo đảm mỹ quan và độ bền công trình xây dựng. Hiện nay, nhiều vật liệu chống thấm của nước ngoài đã được giới thiệu và bán rộng rãi trên thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, các vật ấy chưa được nghiên cứu đầy đủ để thích ứng với điều kiện khí hậu Việt Nam và các dạng thấm tường cụ thể. Nghiên cứu các dạng thấm tường cụ thể, pha chế các vật liệu, chống thấm như lastic, nhũ tương… có sẵn trên thị trường tạo ra vật liệu chống thấm có hiệu quả nhất trong điều kiện khí hậu Việt Nam… là những việc làm đầy tính sáng tạo và mang ý nghĩa thực tế của hai nhà khoa học trẻ Hùng – Thúy. Qua nghiên cứu thực tế, họ đã phân loại các dạng thấm tường như sau:
Thấm ẩm trực tiếp qua tường
Ngấm ẩm chân tường
Thấm qua kẽ nứt cổ trần
Thấm qua kẽ khuôn cửa và tương gạch
Từ đó, họ nghiên cứu các biện pháp sửa chữa cụ thể. Với dạng thấm ẩm trực tiếp qua tường, biện pháp cổ truyền là trát lại bằng vừa xi măng chống thấm làm dày tường thêm, còn công nghệ mới là quét sơ chống thấm trên nền cũ. Tương tự, dạng ngấm ẩm chân tường, biện pháp cổ truyền là đục tường, đập bỏ vữa trát cũ, đổ lại giằng và trát vữa mới, còn công nghệ mới là bọc phần ngấm ẩm bằng sơn xi măng. Với các dạng thấm qua lớp trang trí ngoài và thấm qua kẽ nứt cổ trần, công nghệ và thấm qua kẽ nứt cổ trần, công nghệ cũ đều không có, còn công nghệ mới là xảm matít, dán băng cách nước đàn hồi. Nhờ tim đúng bệnh, chữa đúng thuốc, nên các công trình xây dựng bị thấm ẩm được sửa chữa bằng công nghệ mới được trả lại đúng giá trị thẩm mỹ và giá trị sử dụng. Ưu điểm của công nghệ mới này còn là: giá thành sửa chữa giảm 15 đến 20% và tiết kiệm được thời gian. Qua một năm nghiên cứu thực tế, kiểm nghiệm trong phòng thí nghiệm, và đem áp dụng tại nhiều công trình xây dựng, những công nghệ chống thấm mới này đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn các công nghệ cũ. Công nghệ mới này đã được áp dụng để sửa chữa một số công trình: Ủy ban phòng chống chất độc màu da cam 10 trên 80, Viện nghiên cứu công nghệ quốc gia, Nhà khách chính phủ, công ty phát hành báo chí Trung ương…. Vào dịp kỷ niệm thành lập Đoàn 26 tháng 3 năm 1996, đề tài nghiên cứu của Phó tiến sĩ Lê Quang Hùng và Kỹ sư Trương Thị Hồng Thúy được hội đồng khoa học gồm nhiều nhà khoa học hàng đầu ở Việt Nam nhất trí (bỏ phiếu kín) đề nghị trao giải thưởng “Khoa học – kỹ thuật thanh niên” lần thứ 6.
Phượng Trang – Trí Thức Trẻ – 1996.

Một công trình nghiên cứu đối với nam giới ở Pari

Trong bản báo cáo mới nhất đăng trên tạp chí khoa học nổi tiếng Y học Anh Quốc số 2 năm 1996, các nhà khoa học ở Edinburg – Scotland cho biết ở những đàn ông sinh sau năm 1970, số lượng tinh trùng đã giảm bình quân 25% so với những người sinh trước năm 1959, tức là mức giảm tới 2,1% một năm. Một công trình nghiên cứu đối với nam giới ở Pari năm 1995, cũng cho thấy số lượng tinh trùng của đàn ông trong 20 năm qua giảm bình quân là 2,1% một năm. Một công trình nghiên cứu rộng hơn của các nhà khoa học Đan Mạch đã phân tích 15 ngàn đàn ông của 21 nước, phát hiện trong 50 năm qua, bình quân số tinh trùng đã bị giảm tới 60%. Vốn ra hiệu quả sinh dục của con người rất cao. Khi giao hợp, người đàn ông phóng ra hàng chục triệu tinh trùng mỗi lần, chúng tranh nhau chui vào tử cung, rồi vào ống dẫn trứng, nếu khi đó trong ống dẫn trứng thì người phụ nữ có cơ hội thụ thai. Song những tinh trùng vào đến ống dẫn Trứng cũng có khả năng đã sức cùng lực tận không thể chui vào được trong trứng rất ít, do đó đàn ông phải có nhiều tinh trùng, mỗi lần phóng tinh phải huy động được đội quân đông từ 40 triệu đến 120 triệu, nếu 1 ml tinh dịch không chứa tới 20 triệu tinh trùng thì cơ hội để thụ thai rất khó, số tinh trùng càng ích thì cơ hội thụ thai càng giảm, lượng tinh dịch dù nhiều đến đâu cũng chẳng giúp ít gì, cái quan trọng là mật độ tinh trùng trong đó kia! Vì vậy các bác sĩ rất chú trọng đến số lượng tinh trùng. Song mấy năm gần đây không những số lượng tinh trùng giảm sút mà chất lượng cũng bị hạ thấp, sức sống rất yếu. Bác sĩ Cadami ở Qũy nghiên cứu sinh đẻ New York nói: vào thập niên 60, chỉ có 8% số nam giới đến khám lá có vấn đề về vô sinh, nay tỷ lệ này tới 40%. Nguyên nhân vẫn chưa rõ Strees, hút thuốc và lạm dụng dược phẩm là có liên quan, nhưng đàn ông quyết định có con muộn cũng là lý do (vì tuổi càng cáo thì số lượng và sức sống của tinh trùng càng giảm), bệnh đường sinh dục gia tăng cũng là một lý do. Một luận điểm khác là sự ô nhiễm hóa chất mang tính thế giới, bao gồm thuốc trừ sâu, khí thải từ nhiệt cháy và xe hơi. Trong cuốn sách “Chúng ta bị cướp mất tương lai” mới xuất bản rất được chú ý đã viết: những hóa chất này dù xâm nhập vào cơ thể, chỉ rất ít cũng đều ảnh hưởng đến thế hệ sau, chúng làm lượng tinh trùng giảm sút, ung thư vú và các chứng ung thư khác gia tăng. Các nhà khoa học cũng chỉ rõ: thực phẩm gia công quá nhiều, thực phẩm tự nhiên quá ít, người ta trưởng thành theo xu hướng phi tự nhiên, lượng mở ngày càng tăng, số lượng tinh trùng ngày một giảm. Đề nghị của họ quả là khó thực hiện: hạn chế việc gia công chế biến thực phẩm, đào thải xe hơi, nguồn gây ô nhiễm lớn nhất. Dưới đây là các số thống kê đáng lo ngại, tỷ lệ số đàn ông có hàm lượng tinh trùng trên 100 triệu con trên 1 ml tức khả năng thụ thai cao, năm 1930, đến năm 1950 là 50%, tỷ lệ này thời gian từ năm 1951 đến 1960 là 40%, từ 1961 đến 1970 là 30%, từ 1971 đến 1980 là 20%, còn trong thời gian gần đây nhất là từ 1981 đến 1990 chỉ còn 10%. Theo đà này thì sang thế kỷ tới, giới mày râu sẽ trở thành phái yếu mất!
Lan Hương – Trí Thức Trẻ -1996.