Monthly Archives: February 2016

Có hay không năng lượng thời gian và năng lượng tinh thần?

Mỗi cơ thể hoặc vật chất đều có những dự trữ các chất thời gian. Trong quá trình phân rã nguyên tử, dự trữ các chất thời gian giảm dần quỹ thời gian giảm dần. Khi quỹ thời gian cạn kiệt là thời điểm cáo chung của nguyên tử hay cơ thể. Trong cơ thể con người, các chất quan trọng nhất của sự phân rã có chứa thời gian chủ yếu này, theo các sản phẩm khác của sự phân rã, thải ra ngoài cơ thể phần lớn qua đường nước tiểu. Khi ta ăn uống là ta bù lại và làm chậm lại sư hao mòn của quỹ thời gian. Nếu quỹ này cạn kiệt là lúc cơ thể con người đi vào cõi chết. Chắc các bạn cho rằng đây là những chuyện khéo bịa. Nhưng chúng ta đều biết: Khái niệm thời gian chúng ta đang dùng chỉ là điều áp đặt của con người. Con người đã dựa trên chu kỳ quay của trái đất xung quanh mặt trời và vận tốc quay quanh trục của nó để quy ra các đơn vị thời gian như năm, tháng, ngày, giờ… theo công thức đã biết S = V.T. Lịch Mặt trăng (âm lịch) cũng khác với lịch Mặt trời dương lịch. Thử hỏi: nếu quả đất không quay quanh mặt trời và quay quanh trục của nó thì đơn vị thời gian của chúng ta sẽ tính theo đơn vị gì?
Mỗi một đơn vị vật chất có đơn vị thời gian đặc trưng của nó. Mỗi cơ thể do nhiều đơn vị vật chất kết hợp thành, cũng có đơn vị thời gian đặc thù riêng, phản ánh mức độ bền vững cấu trúc của cơ thể đó. Ngày nay, khoa học khảo cổ đã tính được tuổi của các đô vật, xương người, xương động vật… được tìm thấy trong lòng đất. Thế mới thấy các bậc thánh nhân xưa đã biết thời gian là một dạng thông tin năng lượng đặc thù cho mỗi chủ thể. Còn chúng ta là những người có học và văn minh, thì chỉ biết lấy đơn vị thời gian của hệ mặt trời gán cho mọi hiện tượng khoa học ngày nay cho phép biết được một thiên thể cách trái đất hàng triệu năm và tuổi của nó là nhờ bắt được các sóng năng lượng mà nó phát ra. Nếu chúng ta có khả năng nhận biết được các dạng năng lượng thời gian đặc thù của mỗi sinh vật thì có thể tính tuổi thọ của mỗi người và mỗi sinh vật không khó khăn gì. Năng lượng thời gian luôn mang đầy đủ các thông tin của quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian và không gian luôn tồn tại song song. Nếu như ở một dải ngân hàng khác với dải ngân hà của vũ trụ chúng ta đang sống có kích thước và không gian lớn hơn thì đơn vị thời gian ở đó có thể không phải là đơn vị năm mà có thể sẽ là hàng triệu năm?
Không chỉ thời gian, mà cả tinh thần cũng được nhận biết dưới các dạng năng lượng. Cũng như ánh sáng sẽ là gì, nếu không gặp vật cản quang với nói? Cũng như vậy, nếu tinh thần không phải là một dạng năng lượng, thì không thể tác động lên thần kinh là cơ quan tiếp nhận và dẫn truyền các thông tin năng lượng để gây nên các phản ứng trực thể của tế bào nói riêng và của cơ thể nói chung. Khi hai cặp mắt gặp nhau là đã trao đổi các sóng ở dạng năng lượng tinh thần. Sự biểu cảm khác nhau thì phát ra các sóng năng lượng khác nhau. Mặt khác, năng lượng tinh thần không bị hạn chế bởi thời gian và không gian. Một suy nghĩ của một người trong tình trạng khẩn cấp phát ra cơ thể được một người thân đang nghĩ đến anh ta một cách mãnh liệt nhận được và biểu hiện ở dạng linh cảm bồn chồn, lo lắng hay nhìn thấy trong mơ. Năng lượng tinh thần tồn tại ở một dạng sóng nào đó mà khoa học chưa phát hiện được nên mới có thể có hiện tượng “Thần giao cách cảm”. Tóm lại, tinh thần và thời gian là những dạng năng lượng thông tin tinh vi, hữu hình, tuy siêu hình nhưng không phải là vô hình. Nhiều sinh vật không có tín hiệu thứ 2 – tiếng nói, nhưng có khả năng thu phát các thông tin năng lượng tinh thần cho đồng loại. Con người do có tiếng nói, nên các khả năng này ít được sử dụng và dần bị thoái hóa và mất hẳn. Tuy nhiên, vẫn còn những trường hợp hiếm hỏi về thần giao cách cảm hay giác quan thứ 6 mà ta thường nghe hoặc đọc thấy. Đó chẳng phải là gì cao siêu đối với một số sinh vật và động vật bậc thấp, mà chỉ là những bẳn năng rất bình thường của chúng. Chẳng phải là những người câm điếc bẩm sinh phải vận dụng các giác quan còn lại để sinh tồn thường có những tri giác nhạy cảm, phát triển hơn người thường đó sao?
HT – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Biện chứng luận trị

Bí quyết thành công trong hai ca chữa bệnh kể trên đều là nhờ vào sự biện chứng tinh tường và chính xác. Trước nhất chứng trong Đông Y không đơn thuần là một triệu chứng hay một trạng thái cụ thể. Chứng được dùng để khái quát toàn bộ nguyên nhân gây bệnh, các nhân tố có khả năng sinh bệnh, vị trí bệnh – bệnh vị, tính chất và cơ chế phát sinh bệnh – bệnh cơ, cho đến khả năng chống bệnh – sức đề kháng của cơ thể. Chính vì thế nen chứng thường gọi là chứng hậu, “hậu” là toàn bộ tình hình và mức độ biến đổi của sự vật. Còn “luận trị” là dựa vào cơ sở của “biện chứng” để xác định nguyên tắc trị liệu. Muốn luận trị, trước hết cần biện chứng. Biện chứng là tiền đề và cưa cứ của luận trị. Luận trị là những thủ đoạn những phương pháp giải trừ bệnh tật. Luận trị cũng là mục tiêu chủ yế của biện chứng. Thêm nữa, luận trị cũng là hình thức để kiểm tra xem biện chứng có chính xác hay không. Biện chứng luận trị là hạch tâm của y lý Đông Y. Nó cũng là một trong những bí quyết quan trọng nhất trong y đạo cổ truyền. Chính Biện chứng luận trị đã tạo nên sự khác biệt căn bản giữa Đông Y và Tây Y. Trước nhất, Biện chứng luận trị khác với phương pháp được gọi là đối chứng trị liệu tức là lối chữa bệnh nhằm loại trừ các triệu chứng cụ thể như đau đầu chữa đầu, đau chân chữa chân, thấy đau chữa đau, thầy phù chữa phù… Biện chứng luận trị cũng khác với phương pháp đối bệnh trị liệu tức là phương pháp đối với mỗi loại bệnh thì dùng những phương thuốc hoặc phương pháp cố định để chữa. Quan niệm Biện chứng luận trị có mức độ tổng hợp cao hơn. Nó cho rằng trong những giai đoạn khác nhau của cùng một bệnh, có thể xuất hiện những chứng hậu khác nha. Ngược lại đối với những bệnh khác nhau, trong quá trình diễn biến cũng có thể xuất hiện những chứng hậu giống nhau. Do đó tuy cùng là một bệnh nhưng do chứng hậu khác nhau nên cách chữa cũng khác nhau như vậy trong Đông Y gọi là đồng bệnh dị trị, còn như tùy bệnh là khác nhau, mà những chứng hậu lại giống nhau thì cách trị cũng giống nhau dị bệnh đồng trị. Quay lại câu chuyện chữa bệnh kể trên có thể thấy, nhờ có tài biện chứng và luật trị tinh tường mà Nguyễn Qúy đã xác định được phép trị rất linh hoạt và dùng thuốc rất giản dị mà chính xác. Còn câu chuyện về Hoa Đà thì mặc dù hai người bệnh có triệu chứng bên ngoài giống nhau song sau khi tiến hành xem kỹ lưỡng và biện chứng của hai người khác nhau một người bị ngoại cảm một người bị nội cảm, cho nên cách chữa trị khác nhau và kết quả đều mãn ý cả. Tóm lại, Biện chứng luận trị là căn cứ vào sự phân tích tỉ mỉ và toàn diện các chứng trạng cụ thể ở người bệnh, từ đó tìm ra được trị pháp cách trị. Trên cơ sở phép trị đó, có thể tùy theo từng điều kiện cụ thể mà sử dụng linh hoạt những phương pháp thuốc hoặc biện pháp nhất định. Biện chứng luận trị LÀ MỘT TRONG những bí quyết quan trọng nhất của Đông y và đó cũng là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ của một người thầy thuốc Y học cổ truyền.
Thái Hư – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Điều kỳ lạ của các thiên tài

Lịch sử có rất nhiều trường hợp thiên tài chỉ được mọi người biết đến khi họ đã lớn tuổi, thậm chí đã chết. Nguyên soái Man ne ghem của Phấn Lna cho đến 7 tuổi còn chưa biết nói. Nhưng sau đó trí tuệ của ông lại phát triển khá nhanh. Sau này ông biết rất nhiều ngoại ngữ, còn nhà văn Pháp E – min Zola khi học phổ thông phải chật vật lắm mới đạt được điểm trung bình trong môn văn. Còn nhà văn cổ tích Đan Mạch, nhà văn nổi tiếng người Nga Lép tôn xtoi, Trê Khốp khi còn nhỏ không có gì khác biệt với những trẻ em cùng lứa. Nhà bác học nổi tiếng về vi sinh Lu is Pax tơ đã bị thầy giáo môn hóa học đánh giá là học sinh dưới trung bình, còn thầy giáo của nhà bác học vĩ đại Anh Xtanh nhận xét về ông như sau: “Cậu học trò này sau sẽ chẳng làm nên trò trống gì cả”. Sau này nhiều người con cho rằng Anh – Xtanh là một người chậm hiểu.
Song trong thế giới của các nhà thiên tài lại có một số những người tỏ vẻ tài năng của mình rất sớm. Nhà bác học nữ người Anh Rut Lau rens khi 14 tuổi đã thi xong chương trình toán và vật lý ở đại học Ot phốt. Để hoàn thành chương trình đại học cô chỉ mất đúng một năm học. Nhà thiên tài toán học Fri đrich Gan sơ lên 3 tuổi đã giúp bố cách tính nhẩm nhanh. Nhạc sĩ thiên tài Na Uy Von fgang Play lúc 3 tuổi đã ứng tấu rất tuyệt vời các tác phẩm âm nhạc của Bram sơ và Gen đen. Còn Nam Triều Tiên có Kim Ung Eng bắt đầu làm cho bố mẹ và họ hàng kinh ngạc vào tuổi 10 tháng. Lúc đó cậu đã phân biệt được chữ tượng hình. Khi được một tuổi cậu đã phát biểu trên vô tuyến truyền hình không chỉ bằng tiếng mẹ đẻ mà bằng cả tiếng Anh. Cậu có vốn từ tiếng Anh tới con số 500. Cậu bé người Anh 3 tuổi Tim Jon đã làm mẹ cậu sửng sốt bởi bức thư tình say đắm cậu viết cho nữ ca sĩ Sin le Blay. Còn cậu bé 11 tuổi người Gru di a đã nói thầm với thầy giáo về thuyết phân rã hạt nhân mà cậu tự nghĩ ra. Vào đầu thế kỷ 20 nhóm các nhà bác học đã lập ra một hệ thống xác định sự phát triển trí tuệ của các trẻ em có tên là IQ (Intelligence Quote). Sau đó hệ thống này được áp dụng cho cả người lớn. Các chuyên gia trường đại học Stan phốt Mỹ đã liệt kê danh sách những thiên tài nổi tiếng nhất trong 400 năm qua và mỗi người được tính điểm IQ về sự phát triển trí tuệ trước 17 tuổi. Kết quả thật bất ngờ. Trí tuệ của một con người bình thường là từ 85 cho đến 115 điểm, vậy các thiên tài có số điểm là bao nhiêu? Người có số điểm cao nhất là nhà triết học, kinh tế học người Anh ở thế kỷ 19 Giôn S Min được 190 điểm. Sau đó là nhà văn hào nổi tiếng Đức Gớt là 185 điểm, nhà triết học người Pháp Von te là 170 điểm, nhạc sĩ thiên tài người Áo Mô Za là 150 điểm, nhà thơ Anh Byron 150 điểm, Tổng thống Mỹ To mas jet phe son là 145 điểm, Nhà bác học Ý Ga li lê là 145 điểm, vua nước Pháp Na pô lê ông 140 điểm. Họa sĩ thiên tài người Ý Le on na đờ vanh xy 135 điểm.
Đ – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Sức mạnh hồi sinh của lý trí – Phần 2

Gần đây, Tiến sĩ Chopra còn lý giải rằng, theo kết quả nghiên cứu mới nhất, triết học Ayusveda nên hiểu như sự cần thiết phải lập trình hóa trí tuệ. Bởi cả sức khỏe, niềm vu cuộc sống và thậm chí sự thành đạt của mỗi cá nhân đều phụ thuộc vào đó. Như Tiến sĩ Chopra khẳng định, ý thức có khả năng hồi sinh. Điều này cũng lý giải một số trường hợp khỏi bệnh thậm chí không hiếm chứng nan y bằng những phương pháp điều trị không chính thống. “Kết quả nghiên cứu 400 trường hợp ung thư hồi phục một cách ngẫu hứng cho thấy nhiều đặc điểm giống nhau. Một số chỉ uống nước hoa quả hoặc Vitamin C liều cao, một số khác uống dược thảo. Họ sống mỗi người một kiểu, song đều có chung đặc điểm đều có niềm tin sắt đá rằng, chắc chắn sẽ khỏi bệnh”. William James, nhà tâm lý học và triết gia Mỹ, đồng tác giả học thuyết biện chứng, ngay trước đây 100 năm đã lưu ý rằng, con người có thể thay đổi cuộc đời của mình không qua sự thay đổi lý trí. James coi đó như một trong những phát triển lớn nhất của thế hệ ông. Các nhà tâm lý học hiện đại thừa nhận rằng, nhiều người không thành đạt chỉ vì họ thiếu động cơ hành động, ngay từ đầu, họ đã đinh ninh rằng, số phận đã quy định cuộc đời họ đồng nghĩa với sự thất bại. giới y học hiện đại phân loại cá tính con người thuộc nhóm dễ bị nhồi máu cơ tim hoặc dễ bị ung thư. Và họ thừa nhận rằng, thi dụ, những phụ nữ độc thân dễ bị ung thư vú hơn đồng loại đối chứng.
Thay đổi cuộc sống thế nào
Tiến sĩ Chopra khẳng định rằng, nhồi máu cơ tim, tiểu đường xảy ra với những đối tượng nhất định. Họ là ai? Tất cả phụ thuộc vào kiểu thân thể và lý trí của cá thể đối tượng bao giờ cũng có những điểm mạnh và yếu nhất định. Vì lý do này, những tín đồ Ayusveda lưu ý học hiện đại sự cần thiết phải nghiên cứu sự khác biệt giữa các loại bệnh thay vì sự khác biệt giữa con người. Với họ, bệnh tật khác nhau hệt như con người chúng ta vậy. Thí dụ điển hình là cùng một con bệnh, song có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau thủ phạm thí dụ bệnh lý ruột thừa có thể vì ăn uống cũng như stress, vấp váp trong công việc hoặc gia đình. Cho dù thực tế những nghiên cứu mới nhất cho thấy rằng, vi trùng H. Pylori là thủ phạm chính, song nó cũng hay xuất hiện nhiều nhất trong đối tượng thường sống trong trạng thái thần kinh căng thẳng (stress) và hút thuốc lá. Ayusveda cũng nhìn nhận rất khác những trạng thái như đau đơn, suy sụp tinh thần, mệt mỏi, lo âu hoặc suy nhược toàn thân. Thông thường các bác sĩ xếp chúng vào dạng rồi loạn tâm sinh lý, tức hội chứng xuất hiện trong đầu người bệnh. Các nhà y thuật cổ điển Ấn Độ lại cho rằng, đó là dấu hiệu báo trước những bệnh lý trầm trọng mà còn có thể ngăn ngừa. Những triệu chứng như thế báo trước, thí dụ khả năng nhồi máu cơ tim. Đa số nạn nhân của căn bệnh này nhận được từ cơ thể tín hiệu cảnh báo, song hoặc họ không hiểu ra hoặc coi thường. Như tiến sĩ Chopra khẳng định sự liên kết phản ứng giữa lý trí và hệ đề kháng nhanh tới mức ngay bác sĩ giỏi cũng khó xác định thời điểm nguy kịch, khi những ý nghĩa tiêu cực cản trở chuyển động bình thường của bạch cầu. giáo sư Ranade cho rằng, việc điều trị con người thay vì con bệnh là yếu tố khiến Ayusveda khác biệt tất cả hệ thống y học truyền thống. Ayusveda cung cấp những lời khuyên đơn giản và những chỉ dẫn, mà nhờ nó, ai cũng có thể tạo cho mình lối sống hợp lý, chế độ dinh dưỡng và thói quen thích ứng với thể trạng tâm sinh lý cũng như môi trường với thiên nhiên, các mùa trong năm và điều kiện thời tiết. Mỗi người cũng tự khám phá cái gì tốt và không tốt đối với bản thân. Ayusveda không chỉ là người dẫn đường trong cuộc tìm kiếm thú vị ấy. Như giáo sư Chopra nói, mỗi ngày là cuộc đối thoại giữa bạn và cơ thể mình.
Bác sĩ Bích Thủy – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Sức mạnh hồi sinh của lý trí – Phần 1

Mãi đến gần đây nền y học hiện đại mới phát hiện ra ảnh hưởng to lớn của thể trạng tâm lý, những tư tưởng và nhân sinh quan đối với sức khỏe và đời sống con người trong khi vấn đề đã được quan tâm từ trên 6 nghìn năm trước ở Ấn Độ và ba năm nay ở Mỹ.
Sức khỏe hoàn thiện
Khởi thủy trường phái Y thuật Ấn Độ trên mang tên là Ayusveda cấu tạo bởi hai từ cổ, Ayus sự sống và Veda kiến thức Như vậy Ayusveda là kiến thức về sự sống. Theo nội dung triết lý của Ayusveda, lý trí có tác động mạnh mẽ nhất đối với thể xác, và sự giải thoát khỏi bệnh tật lệ thuộc vào ý thức và sự cân bằng của nó khả dĩ chuyển giao sự cân bằng này cho thân thể. Y học hiện đại phân tích hiện trạng đó khác chút ít, song ý nghĩa thì tương tự. Kết quả những nghiên cứu mới nhất cho thấy rằng, tự nhiên vốn tồn tại sự gắn bó chặt chẽ giữa ba hệ thống quan trọng nhất của của cơ thể con người, hệ hóc môn, hệ thần kinh và hệ đề kháng . Thế nên, sự sút kém về tinh thần có thể làm gia tăng khả năng mắc bệnh truyền nhiễm và một số bệnh khác, thí dụ như bệnh hệ tim mạch và ung thư. Tại Mỹ, Tiến sĩ Deepak Chopra, học giả nổi tiếng nhất của trường phái Ayusveda đã công bố nhiều công trình nghiên cứu thú vị về khoa thuật này. Trong tác phẩm sức khỏe hoàn thiện ông khẳng định: Thực ra mọi người đều có khả năng lựa chọn bệnh cho mình. Có điều, thật hiếm người ý thức được điều đó. Nhiều người không nhận ra thói quen buồn rầu của mình không kiểm soát được sự tức giận. Hậu quả không ít người tự cho mình như kẻ bẩm sinh đã bất hạnh, thất bại cả trong sự nghiệp cũng như đời tư, song không hề biết rằng chính bản thân đã tạo ra số phận như thế. Tự nhiên tế bào của chúng ta Tiến sĩ Deepak Chopra viết vốn chứa đầy tất cả những kinh nghiệm của sự chối bỏ, sự không hài lòng và nghi ngờ từng che phủ quá khứ mỗi con người. Các nhà tâm thần học thừa nhận rằng, những bệnh nhân thần kinh, thí dụ mắc chứng suy sụp tinh thần hay thần kinh, thường dễ mắc bệnh hơn đối tượng đối chứng. Tiến sĩ Deepak Chopra dẫn trương hợp cậu bé Timmy 6 tuổi, bệnh nhân hội chứng phân liệt cá tính. Timmy không chỉ có thể tự thể hiện hàng tá cá tính khác nhau với tình cảm và giọng nói khác biệt, mà cũng cảm nhận những bệnh đủ loại. Trong bối cảnh này, Timmy mắc bệnh tiểu đường, trường hợp khác như hen suyễn hoặc áp huyết cao.Trong thể xác Timmy dường như cả áp huyết và đặc tính hoạt động điện não và thậm chí cả vết sẹo và màu mắt cũng tự thay đổi. Con người kỳ lạ ấy đã được tuần báo New York Times mô tả thế này: “Nếu Timmy uống ly nước cam đúng thời điểm cơ thể đang mang cá tính người bị dự ứng cam lập tức cả người Timmy nổi mề đay, đỏ ửng. Nhưng khi cá tính đó biến mất cả thân thể cậu lại nhẵn như mọi người bình thường. Lý giải hiện tượng đó như thế nào? Theo Tiến sĩ Chopra, chính con người quyết định mọi phản ứng của cơ thể. Những bệnh tật khác cũng có thể xuất hiện theo cơ chế ấy.
Thân thể khỏe mạnh trong tâm hồn khỏe mạnh
Giới y học hiện đại thừa nhận rằng, dịch vụ y tế chỉ đóng vai trò từ 5 đến 10% khả năng cải thiện sức khỏe của con người. Sự mất tỷ lệ cân đối gien là thủ phạm gây nên 10% đến 20% các loại bệnh. Thế nên, lối sống, chế độ dinh dưỡng, sự hoạt động, việc từ bỏ những tật xấu chế đội nghỉ ngơi và sự cân bằng tâm lý đóng vai trò quyết định đến tình trạng sức khỏe của mỗi người. Ayusveda cho rằng, phong độ linh hồn là quan trọng nhất. Như khẳng định của giáo sư S. Ranade chủ nhiệm khoa Ayusveda thuộc trường Đại học Tổng hợp Pun – Ấn Độ, lý trí điềm đạm cũng là tĩnh lại thể xác, yếu tố khiến cơ thể đề kháng tốt hơn đối với mọi bệnh tật. Vật lý trị liệu như mát xa, chế độ ăn hạn chế thịt và mỡ động vật, luyện tập Yaga và cầu nguyện sẽ giúp cơ thể duy trì sự hài hòa cần thiết.
Bác sĩ Bích Thủy – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Khả năng diệu kỳ của khoa học về ảnh nổi

Một trong những điều kỳ diệu nhất của thế kỷ XX được các nhà khoa học đánh giá là khoa học về ảo ảnh, hoặc còn gọi là ảnh nổi, ảnh toàn ký, người đầu tiên đề xuất ý tưởng về khoa học này vào năm 1949 là Dennis Gabor nhà vật lý học Anh, và tên gọi bằng tiếng Anh của môn khoa học về ảnh nổi là Hologra Phy.
Đây là một từ ghép gồm hai phần gốc chữ Hy Lạp holos là toàn bộ, toàn thể và graphy là khoa học về vẽ, ký, phác đồ. Hơn 10 năm sau, vào những năm 1958 đến năm 1961, nhà vật lý người Nga luri Denhisuyk sáng chế ra công cụ để thể hiện ý tưởng khoa học của Dennis Gabor. Khi Luri Denhisuyk công bố sáng chế của ông trong tạp chí “Báo cáo khoa học của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô” vào năm 1962, nhiều đồng nghiệp ở Liên Xô tỏ ra nghi ngờ và cho đó là điều không tưởng. Trong khi đó, ở Mỹ, Anh, trong đó có Dennis Gabor nhiệt liệt hoan nghênh Denhisuyk và đến năm 1970, sáng chế của Luri Denhisuyk được chính thức đăng ký tại Liên Xô, còn Dennis Gabor được trao giải thưởng Nobel năm 1971 nhờ có công đề xuất ý tưởng khoa học về ảnh nổi. Ảnh nổi khác ảnh thường ở chỗ nào? Nếu ảnh thường chỉ ghi lại độ mạnh, yếu của sóng ánh sáng hay còn gọi là biên độ sóng, thì ảnh nổi còn ghi lại cả mặt sóng, hay pha của sóng dựa trên nguyên tắc giao thoa của hai sóng kết hợp. Nếu bằng mắt thường nhìn lên tập phim nổi, ta không thấy gì hơn ngoài những vạch, chấm các hình nhăng nhít, nhưng chỉ cần dùng tia lada chiếu lướt qua tâm phim, ta sẽ có ngay ảnh nổi của vật thể hiện ra y như thật, ta có cảm giác như có thể sờ mó được từ mọi phía. Một điều kỳ diệu là ảnh nổi không chỉ copy lại hình dáng bên ngoài mà cả cấu trúc bên trong của vật chất. Bằng chứng là ảnh nổi của một thấu kính lồi có tác dụng y như một thấu kính thực. Ta có thể dùng ảnh nổi của thấu kính đó hội tụ ánh sáng mặt trời để đốt cháy tờ giấy như khi dùng thấu kính thật!. Nhưng điều kỳ diệu nhất là nếu ta vô ý đánh rơi và làm vỡ tâm phim nổi thành nhiều mảnh, thì mỗi mảnh vụn đó vẫn mang thông tin về toàn bộ vật thể, nghĩa là vẫn cho ta ảnh nổi về vật thể đó. Năm 1971, trường hội họa nghệ thuật ảnh nổi đầu tiên trên thế giới được mở tại San Francisco của Mỹ. Hiện nay, Viện bảo tàng nghệ thuật ảnh nổi được mở lại nhiều nước trên thế giới. Công nghệ ảnh nổi không dừng lại ở lĩnh vực hội họa. Nó đang khai phá những hướng mới trong tiến trình nghiên cứu các bí mật của tự nhiên. Nhiều vấn đề khoa học kỹ thuật rất phức tạp được đặt ra trong lĩnh vực khoa học, di truyền học liên quan đến khoa học ảnh nổi. Thí dụ, một số nhà khoa học đưa ra giả thuyết cho rằng cá denphin sử dụng sóng âm thanh tạo ra ảnh về nổi về thế giới bao quanh nó. Nhờ thế, nó có khả năng nhận biết bạn tình của nó được cách ly và nuôi ở hai bể cách nhau rất xa. Hoặc từ sâu thẳm dưới đại dương, nó có thể nhận ra người quen qua tiếng gọi. Kỳ diệu hơn, gần đây các nhà di truyền học và điện sinh học. Bộ gien di truyền bằng sóng điện sinh học tạo ra ảnh khối về cơ thể sống của chủ nhân. Ảnh nổi do gien tạo ra chính là khuôn mẫu buộc các tế bào phải phát triển theo. Điều đó giải thích tại sao chỉ cần dùng các tế bào cũng có thể nuôi cấy thành các cây hoa phong lan tuyệt đẹp trong ống nghiệm. Như vậy, năm 1949 nhà vật lý người Anh đưa ra ý tưởng ảnh nổi chỉ vì ông muốn tăng thêm tính hấp dẫn của hội họa. Gần 50 năm sau, ảnh nổi đã trở thành môn khoa học có sức khám phá mạnh mẽ giúp con người giải mã được những hiện tượng kỳ bí của vũ trụ.
Lê Minh Quang – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Thay đổi về cách sử dụng nhân sân truyền thống

Từ hơn 2000 năm nay, nhân sâm Triều Tiên đã được sử dụng và trở nên quen thuộc với người Phương Đông. Ngày nay, Tây y đã công nhận Nhân sâm Triều Tiên như một loại tân dược và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Nhân sâm Triều Tiên có những công dụng kỳ diệu với sức khỏe con người đã được y học nghiên cứu và đang còn được tiếp tục nghiên cứu, thực sự là một tặng vật kỳ diệu của tạo hóa. Trên thế giới có rất nhiều vùng trồng sâm như ở Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản, Vùng viễn đông Liên Xô cũ, Bắc Mỹ, nhưng do sự khác nhau về thổ nhưỡng, khí hậu nên Nhân sâm Triều Tiên khác với các sâm trồng ở vùng khác. Thành phần chính của nhân dân là hoạt chất Saponin, Nhân sâm Triều Tiên có 16 loại Saponin còn được gọi là Ginsenoside trong khi đó các loại nhân sâm khác chỉ có 8 đến 9 loại Saponin và đặc biệt chỉ có Nhân sâm Triều Tiên mới chứa một số chất nhà mà các sâm khác không có như chất chống lão hóa như một chất chống oxy hóa và chất có tác dụng tốt trên những người bị mắc bệnh đái đường. Nhân sâm Triều Tiên không những có tác dụng tăng cường sinh lực, bồi bổ sức khỏe mà còn có một số tác dụng đã được y học hiện đại chứng minh làm giảm mệt mỏi, căng thẳng, phục hồi sức khỏe nhanh chóng và hiệu quả, rõ rệt với các stress, người suy nhược thần kinh, tăng khả năng làm việc trí óc, chậm quá trình lão suy, bảo vệ gan khỏi những tác nhân độc hại của môi trường và rượu, tác dụng với đái đường, thải độc làm tiêu mụn nhọt, tác dụng tốt với các chứng bệnh ngoài da, giữ da mịn màng… Chính vì những công dụng tuyệt vời trên mà ngày càng nhiều người ưa thích và sử dụng Nhân sâm Triều Tiên. Trước đây cách dùng nhân sâm trong nhân dân theo 2 cách sau:
Cách 1: Sâm thái mỏng, cho vào miệng ngậm và nhấn từng tí một, nuốt nước và cả bã.
Cách 2: Sâm thái mỏng, cho vào ấm hay chén sứ thêm một ít nước đậy nắp. Đun cách thủy, uống nước. Sau đó lại thêm nước đun và đun cách thủy, tiếp tục uống và làm như vậy cho đến khi hết mùi mới thôi. Ngày nay, để phù hợp với cuộc sống công nghiệp khẩn trương, con người hiện đại luôn phải tiết kiệm thời gian và chính điều đó đã làm thay đổi một số thói quen trong đó, có thói quen sử dụng nhân sâm. Nhờ công nghệ khoa học kỹ thuật phát triển, các nhà máy sản xuất sâm tại Hàn Quốc đã chiết xuất tinh chất Nhân sâm Triều Tiên ở nhiệt độ và áp suất thấp nhờ kỹ thuật này mà tinh chất của nhân sâm được chứa trong một viên nang mềm rất tiện lợi trong sử dụng. Khác với cách dùng nhân sâm trước đây, ngày nay con người hiện đại có thể dùng nhân sâm trong viên nang mềm, vào bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu và rất thuận tiện trong cuộc sống. Hiện nay trên thị trường Việt Nam, đã có sản phẩm Nhân sâm Triều Tiên chính gốc được chứa trong viên nang mềm, đóng trong hộp màu nâu đen, vỉ 3 viên có tên gọi là Korean ginseng sản phẩm được bán rộng rãi tại các nhà thuốc trên toàn quốc. Ngày nay, chúng ta có thể sử dụng Nhân sâm Triều Tiên thật thích hợp và tiện lợi để tăng cường phục hồi sức khỏe cho chính bản thân và đó cũng là một quà tặng giá trị, ý nghĩa trong những cuộc viếng thăm bố mẹ, bạn bè, người thân.
BS Lệ Hằng – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Rong ruổi khắp thế giới bằng xe đạp

Sinh a ở dưới chân núi Alps, Clauder Marther ngay từ nhỏ đã thích đi du lịch đó đây. Những chuyến du lịch cùng gia đình hay bạn bè luôn luôn làm Marther thích thú. Có thể nói, du lịch đã trở thành sở thích, là cuộc sống của anh. Anh luôn mơ ước có một ngày nào đó đi khắp thế giới bằng chính anh cũng nghĩ rằng đó là một ý nghĩ điên rồ, chẳng bao giờ thực hiện được. Thế mà, cái điều không thưởng đó đã trở thành hiện thực. Năm 1988, lần đầu tiên Marther thực hiện chuyến du lịch mạo hiểm tới Ấn Độ và quay trở lại Thụy Sĩ bằng xe đạp. Chuyến đi đã kết thúc sau ba năm, ngoài sức tưởng tưởng của anh và mọi người. Ở Ấn Độ anh đã từng phải gò lưng đạp xe vượt qua những đoạn đường gồ ghề, dốc thoai thoải của miền bắc để lên tới cao nguyên Tây Tạng hùng vĩ. Phong cảnh sơ khai và hoang dã của Tây Tạng đã níu giữ anh ở đây một thời gian dài. Anh nói khi ở giữa cao nguyên tôi cảm giác như tâm hồn và thể xác tôi được hào vào với thiên nhiên. Sau chuyến đi thành công tới Ấn Độ, Marther càng vững tin hơn vào khả năng du lịch khắp thế giới cảu mình bằng xe đạp. Và thế là vào ngày 12 tháng 3 năm 1994, anh đã quyết định rời Geneva, Thụy Sĩ, quê hương anh, để thực hiện chuyến đi dài tới Tokyo, Nhật Bản, 46 nghìn km đường trường, vượt qua châu u và cả châu Á, Marther đã đi tới những vùng xa xôi, hẻo lánh nhất của các nước mà anh đi qua. Anh đã từng phải vác xe nhiều cây số khi vượt qua hai dãy núi Capca và Pamia để tới Liên Xô. Rong ruổi trên những nẻo đường ở Trung Quốc, anh cùng từng đi dọc trên Vạn Lý trường thành và từng sống trên sa mạc Taklamakan ở Xinjing Uygur vào mùa xuân năm 1995. Trên sa mạc anh đã phải đi vất vả, vì chú ngựa sắt, của anh trở nên chậm chạp hơn hẳn những chú lạc đà. Theo cuộc hành trình xuyên lục, anh đã rời Hàn Quốc trên một chuyến thuyền chở hàng lớn để tới Nhật Bản. Từ Kyushu nơi anh cập bến đến Tokyo, Marther đã được làm quen rất nhiều với con người và phong tục tập quán của đất nước hoa anh đào này. Trên đường phố Tokyo anh luôn được chứng kiến dòng người hối hả, ai cũng có vẻ như rất vội vã. Người Nhật Bản như luôn bị cuốn hút vào công việc làm ăn. Ngày 20 tháng 8 năm 1997, Marther sẽ rời Tokyo để bay vượt Thái Bình Dương sang Anchorage, Alaska, Mỹ tiếp tục chuyến du lịch vòng quanh thế giới bằng chiếc xe đạp của mình. Anh sẽ đi khắp châu Mỹ từ Bắc tới Nam.Và dự định sẽ kết thúc chuyến du ngoạn này vào cuối năm 1998. Cuộc sống của Marther chính là những chuyến du lịch tuyệt vời. Anh tâm sự: Nhờ chuyến du lịch đi khắp thế giới này, tôi mới hiểu hơn nhiều điều về thế giới mà tôi đang sống.
Nguyễn Lân Hùng Sơn – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.

Nguy hiểm cho phôi khi tự ý dùng thuốc – Phần 2

Hỏi: Không cần ngưng đợt trị liệu dài hạn đang tiến hành?
Đúng: Trong trường hợp đang bệnh mãn tính, ngưng đợt trị liệu đang tiến hành là giải pháp xấu nhất, vì em bé cần một bà mẹ có sức khỏe tốt trong thời kỳ thai nghén và sau khi sinh. Trong đa số trường hợp bệnh suyễn, dị ứng động kinh, tiểu đường, thấp khớp, bệnh dạ dày, ruột, tim, hay những bệnh mãn tính khác, bác sĩ cũng có thể áp dụng cách trị liệu mới, có hiệu quả nhưng ít ảnh hưởng đến phôi.
Hỏi: Sẽ gặp nguy hại nếu thụ thai trong khi dùng thuốc ngừa thai?
Sai: nếu vì quên dùng thuốc ngừa, bạn thụ thai, sau đó lại tiếp tục dùng thuốc ngừa, cho đến khi bạn phát hiện rằng mình có thai, cũng không phải là điều trầm trọng. Cho đến nay, khoa học chưa phát hiện được điều gì khác lạ, nơi những em bé ra do thụ thai trong thời gian bà mẹ dùng thuốc ngừa.
Hỏi: Mọi thứ thuốc nguy hiểm cho phôi nhiều hơn cho người mẹ?
Đúng: Một dược phẩm có thể có những chống chỉ định hay tác dụng phụ thường được ghi trong giấy chỉ dẫn. Phải đề phòng tối đa vì tác dụng phụ mà nhiều thứ còn chưa biết có thể gây tác động đến sự phát triển, sức khỏe, thậm chí sinh mạng của bé. Nếu bà mẹ thấy khó chịu khi dùng thuốc dù là bác sĩ ghi toa cũng cần trở lại để bác sĩ khám nghiệm ngay.
Hỏi: Rượu cũng nguy hiểm như một số thuốc?
Đúng: Khi có thai nếu người mẹ thường xuyên dùng rượu như rượu vang, Whisky, rượu khai vị, bia… dù là một lượng nhỏ, cũng có thể gây tác động dị dạng, và cả bệnh phôi do rượu, bé nhẹ cân lúc sanh ra bị dị tật thiếu khả năng trí tuệ, thái độ bất ổn.
Hỏi: Không thể tự điều trị chứng sổ mũi nhẹ?
Sai: hãy nói trước với dược sĩ để họ không bán cho bạn loại thuốc gây co mạch nơi mũi phụ nữ có thai không được dùng hay một xiro trị hoa có chưa codein chất dẫn xuất của morphine. Một số thuốc trị sổ mũi có chứa Paracetamol và chất kháng sinh histamin nên dùng một cách thận trọng. Nếu dùng vào cuối thời kỳ thai nghén, chất kháng sinh histamin có thể làm bé sơ sinh ngủ li bì.
Hỏi: Paracetamol dùng hợp hơn Aspirine?
Đúng: Liều nhẹ Aspirine được dùng trong trường hợp phòng bệnh cao huyết áp khi mang thai, và những hậu quả của chứng này, phải dùng theo sự chỉ dẫn của bác sĩ. Aspirine dùng liều cao không phải không nguy hiểm. Tuy thuốc này không gây dị tât, nhưng từ tháng thứ bảy trở đi, không được dùng aspirine, ngay cả để trị nhức đầu. Như mọi thuốc kháng viêm, Aspirine có tác dụng trên chức năng tim và thận của phôi. Trong suốt thời gian thai nghén, Paracetamol, là thuốc làm dịu đau và trị sốt được khuyên dùng để trị nhức đầu, đau nhức ngắn hạn như bong gân, đau răng trong khi chờ đến nha sĩ nhưng không được dùng quá liều bình thường.
Hỏi: Thai phụ có thể dùng vitamin?
Sai: Người phụ nữ có thai phải cẩn thận, không dùng các loại đa sinh tố chứa Vitamin A có thể gây tác động xấu trên thai. Chỉ Vitamin D được bác sĩ cho thai phụ dùng trong mùa đông ở một số vùng thiếu ánh sáng mặt trời để chữa tạm chứng thiếu nang, để cố định calcium, nhờ thế tránh nguy cơ thiếu chất này nơi bé. Thức ăn thay đổi, rau và trái cây tươi đủ để mang lại cho bà mẹ tương lai và phôi thai các vitamin cần thiết, không để thiếu dinh dưỡng ngay từ đầu thời kỳ thai nghén. Nếu cần bác sĩ sẽ quyết định cho dùng bổ sung vitamin.
Hỏi: Cẩn thận trọng khi dùng những thuốc thoa ngoài da như Pommade như thuốc mỡ, thuốc dẻo, gel…
Đúng: Hoạt tính chứa trong crème, gel, pommade thuốc mỡ bôi trên da sẽ xâm nhập cơ thể. Nên hỏi ý kiến thầy thuốc hay dược sĩ trước khi mua mặc dù những sản phẩm này thường được xem như vô hại.
Minh Trang – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997

Nguy hiểm cho phôi khi tự ý dùng thuốc – Phần 1

Kể từ lúc bắt đầu thụ thai phải hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi dùng thuốc, dù đó là loại thuốc thường, vì có thể nguy hiểm cho phôi.
Sau đây là lời giải đáp của bác sĩ Elozabeth Elefant, chuyên viên phôi học, về những điều đúng, sai khi dùng thuốc.
Hỏi: Trong suốt thời gian có thai, không được dùng bất cứ loại thuốc nào?
Sai: Một số bệnh mãn tính hoặc rối loạn nhất thời, cần được điều trị bằng thuốc, nhưng phải do bác sĩ ghi toa sau khi đã được thông báo bệnh nhân có thai. Người phụ nữ có thai không được tự ý tìm cách chữa trị hoặc dùng bất cứ loại thuốc nào mà chưa có ý kiến của thầy thuốc.
Hỏi: Thuốc gây tác dụng nguy hiểm nhất, chính vào đầu thời kỳ thai nghén?
Đúng: Sau khi thụ thai từ ngày thứ 13 đến ngày thứ 56, là lúc hình thành và phát triển các cơ quan khác nhau của phôi. Sự xáo trộn trong các giại đoạn này có thể gây ra một hay nhiều dị tật. Một số thuốc gây quái thai vì làm rối loạn sự phát triển của phô. Tuy nhiên, đừng quá lo ấu nếu bạn đã dùng thứ thuốc mà không biết mình có thai, vì hiện nay chỉ có ít chất gây dị tật.
Hỏi: Có thể dùng bất cứ thứ gì ta muốn sau giai đoạn kể trên?
Sai: Cần hiểu rõ những biến đổi sinh lý trong khi mang thai, mối liên quan phức tạp giữa người mẹ, cái nhau, và phôi diễn ra cho đến lúc bé ra đời. Trái với những gì ta tưởng, cái nhau không phải một rào chắn: trừ và ngoại lệ, các loại thuốc đều đi qua cái nhau. Trong khi đó phôi vẫn còn non nớt không có khả năng tự vệ trước sự tấn công của thuốc trong tử cung. Những cơ quan lọc như gan, thận vẫn chưa đảm đương nổi vai trò của chúng, một số thành phần của thuốc có thể tích tụ và gây ngộ độc, làm thai chậm lớn, thậm chí gây bệnh. Nếu phải chịu sự tấn công thường xuyên của thuốc, khi sinh ra, bế cần một thời gian để thải trừ các chất thuốc ấy. Vì vậy những bà mẹ tương lai ngay cả với những thuốc tưởng là vô hại.
Hỏi: Nếu lỡ dùng thuốc mà không biết đã mang thai, phải chăng cần tính đến việc nạo phá thai?
Sai: Hiện nay chỉ có một số ít thuốc có tác dụng gây quái thai (một số thuốc trị mụn trứng các hay các bệnh khác về da đã được dặn rõ phải dùng kèm với biện pháp ngừa thai, cho đến khi ngưng trị liệu một thời gian. Hiếm có thuốc gây dị dạng có thể chỉ dẫn bạn đến những trung tâm khảo sát có chỉ dẫn về những nhân tố gây quái thai.
Minh Trang – Trí Thức Trẻ – số 27 – tháng 9 – 1997.