Monthly Archives: December 2015

Trở thành sinh viên đại học năm 11 tuổi

Năm 1991, khi mới 11 tuổi, chú bé Xalevi côxenco ở Mátcova đã thi đỗ xuất sắc vào trường đại học tổng hợp Mátxcơva, trường được mệnh danh là một trong những pháo đài khoa học nổi tiếng nhất ở Nga. Trường này có tên cũ là trường đại học kỹ thuật Matxcơva mang tên Bauman, nơi đã đào tạo không ít nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Chú bé Xalêvi tốt nghiệp trường này năm 15 tuổi – 1995. Hiện nay toàn liên bang Nga vẫn chưa có sinh viên nào trẻ hơn Xêlavi. Trước Xêlavi, có em Coschia Xlavin, người ba cu, đã thi đỗ vào đại học y khoa năm 12 tuổi. Chú bé thần đồng Nga hiện nay chỉ kém nhà vật lý học người Anh nổi tiếng thế giới, công trước Kenvin. Ông trở thành sinh viên trường đại học tổng hợp Glazgo – Anh năm ông 10 tuổi 4 tháng. Chú bé Xêlavi Côxenco được thừa hưởng gien di truyền không phải loại tồi. Mẹ chú là nhà toán học tập chương trình, bố là giảng viên vật lý của một trường đại học ở Matxcova. Khi 2 tuổi Xêlavi đã biết đọc. Lúc 7 tuổi đã có thể lập các chương trình trên máy tính. Khi đến tuổi đi học. Xêlavi đã thi đỗ đặc cách 5 lớp. 10 tuổi chú học hết chương trình phổ thông. Xêlavi không chỉ rất mê say các môn khoa học chính xác, mà còn sáng tác những bài thơ khá hay.
Các nhà y học sẽ làm được gì vào đầu thế kỷ 21?
Điều gì sẽ đến với sức khỏe của chúng ta sẽ sống được bao nhiêu tuổi? Các nhà bác học đã bắt đầu tìm ra những câu trả lời cho các câu hỏi trên. Theo tiến sĩ y học Giê phê ri Ge pha đơn, tác giả cuốn sách những toa thuốc dùng cho năm 2000 vừa ấn hành ở Mỹ thì: Đến năm 1998 con người sẽ tạo ra được da nhân tạo ra được da nhân tạo và sẽ nuôi trồng được chúng trong các phòng thí nghiệm. Đến năm 2000 con người sẽ sản xuất được biệt dược để làm tăng trí nhớ của mình. Đến năm 2002 các nhà y học sẽ thành công trong việc chế ngự căn bệnh thế kỷ AIDS. Đến năm 2003 phụ nữ có thể có con bất kỳ độ tuổi nào. Đến năm 2005 – con người có thể phân tích máu mà không cần phải lấy mẫu máu của bệnh nhân đến năm 2007 Hoa Kỳ sẽ là nước đầu tiên không có người hút thuốc lá. Đến năm 2008 con người sẽ sản xuất được các bộ phận cơ thể nhân tạo để ghép chúng cho bệnh nhân. Đến năm 2009 cuối cùng thì các nhà bác học cũng sẽ tìm ra được vắc xin ngăn ngừa bệnh cúm. Đến năm 2025 tuổi thọ trung bình của người Mỹ sẽ đạt tới 100 năm. Đến năm 2030 các bác sĩ sẽ biết cách phòng được bệnh ung thư và loại trừ tận gốc các loại bệnh về tim mạch.
Diệu Lý – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Xóa bỏ độc quyền xuất bản sách giáo khoa?

Một tác giả đến một nhà sản xuất bản trình bày dự án viết một quyển sách: mục tiêu, đề cương về những ý chính, các chương mục rõ ràng. Sau khi bàn bạc trao đổi, hai bên cuối cùng đạt được một bản đề cương xem như là hoàn hảo. Nhưng nếu như đưa đề cương ấy cho hai người thực hiện khác nhau thì sẽ có hai quyển sách hoàn toàn khác nhau. Quyển này thì nhấn mạnh về mặt này, quyển kia lại nhấn mạnh về mặt khác, cách phân chia chương mục lớn nhỏ, điều gì đưa ra trước, điều gì đưa ra sau, rồi đến văn phòng, ít hay nhiều trích dẫn, các sơ đồ hình ảnh minh họa cũng khác nhau. Là sách giáo khoa thì câu hỏi hay bài tập kiểm tra cũng khác nhau. Cũng một số đề tài cũng một đề cương những quy trình tư duy để thực hiện ra thành văn ở mỗi người lại rất khác nhau. Người thì có tính suy luận lô gich cao chặt chẽ nhưng thiếu hình tượng thiếu âm sắc, người thì có tính nghệ thuật, trực giác nhiều hơn phân tích tổng hợp, dễ gây được hứng thú, giúp cho nhớ lâu, hoặc tập trung vào những điểm chính. Trên đây mới chỉ nêu ra hai kiểu tư duy hầu như đối lập, còn không biết bao nhiêu kiểu hỗn hợp mặt này mặt khác mỗi người một vẻ. Như vậy không có một quyển sách nào giống hệt như một sản phẩm công nghiệp tức là khi thiết kế đã hoàn chỉnh, khuôn mẫu đã được đúc sẵn, các khâu công nghệ đã được bố cục chặt chẽ thì có thể sản xuất hàng loạt sản phẩm chất lượng cao. Dù muốn dù không, chất lượng một quyển sách chủ yếu phụ thuộc vào tài năng một con người hay một nhóm nhỏ. Hiện nay sách giáo khoa phổ thông ở nước ta chỉ có một nhà xuất bản giáo dục được phép tổ chức biên soạn và in ấn. Đặc biệt quyền đánh giá, duyệt cho sách nào được xuất bản hay không chỉ do một số người quyết định. Không biết bao nhiêu tài năng sẵn có khắp nơi không được sử dụng. Chúng ta đều công nhận đa số sách giáo khoa của chúng ta nghèo nàn, so với sách giáo khoa của các nước thì thật là một trời một vực. Sở dĩ như vậy là vì ở nhiều nước, không phải chỉ có một nhà xuất bản được quyền xuất bản và in ấn sách giáo khoa phổ thông mà Bộ giáo dục chỉ đề xuất một chương trình thống nhất cho cả nước với một số chỉ thị xác định những phương hướng lớn, rồi cho phép bất kỳ nhà xuất bản nào cũng có quyền tổ chức việc biên soạn và in ấn lựa chọn tác giả và phát hành ra để cho các giáo viên lựa chọn. Quyển nào hay dễ được giáo viên và học sinh hưởng ứng, được in ra nhiều, còn có một số nhà xuất bản đành chịu lỗ và nhiều khi rút lui. Cuối cùng cả nước còn lại một số nhà xuất bản nổi tiếng về sách giáo khoa (như ở Pháp thì có Hachette, Armand Colin, Nathan, Delagave, Halier…). Giáo viên thường là những người lựa chọn sáng suốt cho nên sự cạnh tranh này thường là lành mạnh. Chất lượng sách về nội dung, về phương pháp, về trình bày là quyết định. Tài năng trong cả nước được huy động và nhiều giáo viên có kinh nghiệm phấn đấu để biên soạn sách giáo khoa và trở thành những giáo viên xuất sắc. Đây cũng là một cách tích cực để nâng cao chất lượng giáo dục. Chúng tôi rất mong ở nước ta cũng có một sự nghiên cứu cho phép một số nhà xuất bản ở những trung tâm lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Cần Thơ, được phép biên soạn và in ấn sách giáo khoa phổ thông. Có sự cạnh tranh đó, các nhà xuất bản buộc phải tìm những tác giả có khả năng nhất, chứ không phải chỉ một số người quen biết của những ủy viên của một Hội đồng nhỏ độc quyền. Chúng tôi tin rằng với trên 75 triệu dân, số người có đủ năng lực biên soạn những cuốn sách giáo khoa phù hợp với tâm sinh lý học sinh ở các cấp không đến nỗi hiếm. Vấn đề là làm thế nào phát hiện và phát huy cho được tiềm năng ấy.
Nguyễn Thị – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Người từ hành tinh khác những bí ẩn lớn của thế kỷ – Phần 2

Mắt to, nhỏ không giống nhau, nhưng nói chung là to và sâu, tròng mắt lõm hẳn vào trong hốc mắt. Tai đều có hai lỗ tai, nhưng không có dái tai như người trên trái đất, mũi cũng có hai lỗ mũi, nhưng phần nhô lên không được rõ ràng lắm, khó nhìn thấy. Đầu hoàn toàn không có tóc, da dẻ nhẵn nhụi, không có lông. Cánh tay đặc biệt phát triển, mọc xuống quá đầu gối, mỗi bàn tay có 4 ngón, không mọc ngón cái, có ngón tay có móng, cũng có ngón tay không có móng, nhưng đặc biệt không có ngón chân. Trong miệng không mọc răng, cũng chẳng có lưỡi và không thấy có đường thông giữ khoang miệng với cơ quan tiêu hóa. Không có cơ quan sinh dục. Cũng có dịch thể lỏng như máu, nhưng không hoàn toàn giống với máu người trên trái đất. Có thể nói hiện tượng người từ hành tinh khác tới đang được coi như một vật thể kỳ lạ trong ngành sinh vật học. Năm 1966, Liên hợp quốc đã phát hành cuốn sách đầu tiên về những vấn đề của đĩa bay, nội dung bao gồm những hoạt động của đĩa bay trên trái đất được con người chính mắt trông thấy, kêu gọi các quốc gia hãy hợp sức nhau lại, tránh gây ra những hành động thù địch và cuộc chiến giữa các vì sao… Vào năm 1977, và năm 1978, Liên hợp quốc cũng cho tổ chức hai hội nghị đặc biệt bàn về vấn đề đĩa bay. Vài ngày trước khi hội nghị thượng đỉnh giữa Mỹ và Liên Xô diễn ra từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 20 tháng 11 năm 1985, hai bên đã cũng thỏa thuận, nếu một khi đĩa bay từ hành tinh khác tới uy hiếp trái đất này, thì Mỹ và Liên Xô hai nước sẽ cùng kề vai sát cánh chống lại. Năm 1993, Liên hợp quốc đã lập ra tổ chức S.E.A.T và triệu tập một hội nghị bàn về vấn đề những sinh vật có trí tuệ từ hành tinh khác tới và tương lai của nhân loại, công khai mời tất cả các nhà khoa học của các quốc gia để cùng bàn về hiện tượng tồn tại của đĩa bay và người ngoài trái đất, do đó sẽ có những đối sách thích hợp. Tổng thống đương nhiệm của Mỹ là Clinton, vào năm 1993 và năm 1994, hai lần đích thân viết thư gửi hội nghị bàn về đĩa bay Jufon, trong thư tổng thống khẳng định có sự tồn tại của đĩa bay và người ngoài trái đất, đồng thời chính phủ Mỹ cũng rất coi trọng vấn đề này, và luôn đặt vấn đề này trong sự phát triển chung của nền kinh tế Mỹ, do đó sẽ đi sâu giải quyết các sự kiện liên quan. Sách giáo khoa được dùng cho trường không quân ở Mỹ, trong tập II cuốn “Nhập môn khoa học vũ trụ” gồm 23 chương chuyên đề cập tới các nghiên cứu về UFO và kết luận rằng trái đất bay là từ hành tinh khác tới trái đất bằng loại công cụ biết bay, trong cuốn sách này còn thừa nhận có từ 3 đến 4 loại người ngoài trái đất. Có ngày càng nhiều các tài liệu và bằng cớ chứng minh sự tồn tại của UFO và ET người ngoài trái đất. Có thể nói rằng, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của người trái đất được tiếp xúc trực tiếp với người ngoài trái đất và đĩa bay. Đến lúc đó, chúng ta sẽ tiếp xúc với một loại sinh vật thông minh hơn, trí tuệ hơn chúng ta rằng người ngoài trái đất sẽ chấp nhận chúng ta? Hai câu hỏi này xin được chờ lời giải đáp của các nhà khoa học trên thế giới.
Thu Liên – Trí Thức Trẻ – số 16 – tháng 10 – 1996.