Monthly Archives: December 2015

Lược truyện các bậc tổ sư – phần 2

Vải dệt bằng Tơ gọi là lụa. Để có thật nhiều lụa, công chúa Thiều Hoa xin vua cha cho di dân đến vùng đất bãi ven sông Hồng để làm nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa. Chính cô là người đã lập ra làng lụa Cổ Đô lừng danh. Truyền thuyết không phải là lịch sử, nhưng truyền thuyết bao giờ cũng phản ánh một sự thực lịch sử nào đó. . Đầu thời Lý, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải của tổ tiên ta đã đạt tới trình độ rất cao. Năm 1011, vua Lý Thái Tổ du ngoạn đến khu vực làng Dâu và xóm Bãi (gần chợ Bưởi, Hà Nội ngày nay). Bấy giờ dân vùng này đã có nghề dệt lĩnh rất nổi tiếng. Kết quả nghiên cứu gần đây cho hay, vùng đất bãi ven sông Đuống (Thuận Thành, Hà Bắc), ngàn xưa là đất của bộ lạc Dâu. Rất có thể, đấy chính là một phần nền tảng lịch sử của truyền thuyết dân gian nói trên… Thời Bắc thuộc, nghề dệt của ta đã đạt được những bước tiến rất đáng kể. Thư tịch cổ của Trung Quốc cho biết, trong những thế kỷ đầu công nguyên, vải cát bá và khăn bạch điệp của nước ta đã rất được khách buôn nước ngoài ưa chuộng. Cát bá là loại vải dệt bằng sợi mịn, còn bạch điệp là loại khăn, trên đó người ta dệt được cả hình những bông hoa màu trắng, khiến cho khi trông xa, chẳng khác gì có cả một đàn bướm đang bay theo dập dờn ở trên đầu. Truyền thuyết dân gian ở vùng Hà Tây kể rằng, tổ sư của nghề dệt vải cát bá là một cô gái trẻ quê ở làng Vạn Phúc (nay thuộc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây). Cô tên gì khi không ai biết, đời chỉ truyền tụng rằng, chính cô là người đã có công khai sáng nghề dệt vải cát bá cho làng Vạn Phúc thuở xưa và cho cả nghề dệt vải lừng danh của đất Hà Tây sau này. Trong kho tàng chuyện kể dân gian, cô gái khuyết danh ở làng Vạn Phúc không phải là người duy nhất được tôn làm tổ sư của nghề dệt thời bắc buộc. Cũng có thể giải thích rằng, nguyên do là bởi đất nước ta thời bấy giờ từng có nhiều làng dệt làng nghề khác nhau. Đầu thời Lý, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải của tổ tiên ta đã đạt tới trình độ rất cao. Năm 1011, vua Lý Thái Tổ du ngoạn đến khu vực làng Dâu và xóm Bãi (gần chợ Bưởi, Hà Nội ngày nay). Bấy giờ dân vùng này đã có nghề dệt lĩnh rất nổi tiếng. Để chào đón nhà vua, họ đã lấy một tấm lĩnh màu đỏ do chính dân làng dệt ra, trên có thêu hình rồng, đem căng ra trước bến sông. Lý Thái Tổ khen dân biết trọng ơn nghĩa, vì thế, cho đổi gọi làng Dâu là làng Nghĩa Đô, xóm bãi là xóm Bái. Đến thời Lý Thái Tông (1028 đến 1054), những người thợ dệt ở nước ta đã dẹt được nhiều mặt hàng cao cấp. Bởi lẽ này, năm 1042, nhà vua đã tự mình làm gương và sau đó bắt quan lại cùng thần dân khắp cả nước may sắm bằng hàng dệt trong nước, quyết không cho ai được may bằng hàng ngoại nhập.
Nguyễn Khắc Thuần- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Lược truyện các bậc tổ sư – phần 1

Tài liệu khảo cổ học cho hay, cách nay khoảng bảy ngàn năm, chủ nhân của văn hóa Bắc Sơn đã biết đan lát. Bạn biết đấy, từ đan lát đến dệt là một khoảng cách không xa lắm. Và sự thực quả là như vậy. Sau Bắc Sơn, chủ nhân của văn hóa Bàu Tró. Quảng Bình đã biết dệt. Hẳn nhiên, đó chỉ mới là hàng dệt thô. Cho đến nay mà nói, đó là chứng tích cổ nhất của nghề dệt ở nước ta. Buổi đầu, vật liệu dệt chủ yếu là sợi lấy từ vỏ cây. Chắc bạn cũng đã từng nghe nói tới hoặc giả là đã tận mắt thấy chăn sui. Đấy chính là loại chăn dệt bằng thứ sợi lấy từ vỏ cây sui – một loại cây có rất nhiều ở vùng rừng núi phía Bắc. Thư tịch cổ của Trung quốc còn cho biết, cư dân thời sơ sử của nước ta đã biết dùng sợi tơ chuối để dệt. Thứ vải dệt bằng tơ chuối gọi là tiêu cát, từng có một thời rất được ưa chuộng. Truyền thuyết dân gian kể rằng, thời Hùng Vương, cha ông ta đã biết trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa. Tổ sư của nghề này là công chúa Thiều Hoa. Chuyện kể rằng công chúa Thiều Hoa là người rất xinh đẹp, lại có biệt tài hiểu được và nói chuyện được với muôn loài. Ngày nào cô vào rừng chơi là ngày đó muôn loài lại nô nức chào đón. Chim hót cho cô nghê, bướm bay lượn khoe màu cho cổ vui mắt. Một lần nọ nhân ngày hội của các loài bướm, công chúa Thiều Hoa vào rừng. Hôm đó, cô bỗng thấy loài bướm nấu xấu xí, lặng lẽ đậu trên cành cây quan sát chứ không hề bay lượn như những loài bướm khác. Khi công chúa Thiều Hoa hỏi han, bướm nâu trả lời rằng: Em không thích bay lượn. Không giống như các loài bướm khác, em sanh ra trứng rồi trứng ấy lại nở thành sâu chớ không thành bướm. Sâu nở từ trứng do em sinh ra chỉ ăn lá dâu chớ không hề phá hại mùa màng. Ăn lá dâu rồi, sâu ấy sẽ nhả ra những sợi óng ánh rất đẹp… Bướm nâu vừa kể vừa bay dẫn đường cho công chúa Thiều Hoa đến một nơi có rất nhiều cây dâu. Ở đó, cô say mê ngắm những sợi nhỏ óng ánh, được những con sâu cuốn lại thành từng cuốn, treo khắp các cành dâu. Và cô thận trọng gỡ những sợi mỏng manh ấy ra, đạn thành vải rồi đem may thành áo, khiến cho ai trông thấy cũng phải ưa. Từ đấy, công chúa Thiều Hoa đặt tên cho loài bướm nâu đặc biệt ấy là Ngài, trứng do ngài đẻ ra gọi là Trứng Ngài, loài sâu nở từ Trứng Ngài, loài sâu nở từ Trứng Ngài gọi là Tằm và thứ sợi óng ánh do Tằm nhả ra gọi là Tơ.
Nguyễn Khắc Thuần- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Làm thế nào để chống bệnh đau lưng?

Bệnh đau lưng không từ bất cứ ai nhất là khi đã có tuổi. Ngồi, đứng, cúi, làm việc, ngủ hoặc lái xe không đúng tư thế đều gây bệnh đau lưng. Bệnh này thường dễ mắc ở tuổi 30 và những người dễ bị là các bà nội trợ khi lao động đứng, ngồi ở tư thế sai, những người lái xe đi làm xa, các họa sĩ và các nhà khoa học suốt ngày “ôm bàn làm việc” và những người làm công việc phải ngồi nhiều. giới y học cho rằng bị béo phì cũng gây ra đau lưng. Nếu một người tăng thêm 5 kg thì cột sống người đó phải chịu thêm lực là 25 kg khiến cho các đốt cột xương sống và dây chằng căng ra. Những người yếu cơ bụng, nâng bốc những vật quá nặng thường xuyên và ăn những bữa ăn thiếu chất cũng dễ bị đau lưng. Một trong những sự kiện luyện tập tốt nhất để cho cột sống khỏe mạnh là tập luyện nhẹ nhàng như đi bộ khoảng 30 phút ba lần một tuần. Khi đi bộ bạn nên thót bụng lại, ngẩng đầu lên. Luyện tập để cho cơ bụng khỏe là điều cần thiết hàng ngày. Các cơ ở phần giữa cơ thể rắn chắc sẽ giúp cho lưng khỏe hơn. Luyện tập thường xuyên còn giúp cho cơ bụng và cơ lưng khỏe mạnh làm cho sự lưu thông trong cột sống tốt hơn và cột sống mềm mại hơn. Cột sống được cấu tạo bởi những đốt sống và chúng được gắn với nhau bằng nhiều chất. giữa các đốt sống có những chỗ trống nơi những dây thần kinh bắt nguồn. Khi chúng ta ngồi, ngủ hoặc làm việc không đúng tư thế là cho cột sống căng ra khiến cho các dây thần kinh và các chỗ nối đốt sống bị ảnh hưởng. Nếu tư thế sai này lập đi lặp lại nhiều lần bệnh đau lưng sẽ phát triển. Để tránh bệnh đau lưng ngoài việc chú ý đến thư thế ngồi và luyện tập hàng ngày cần chú ý những điều sau đây: Khi ngân một vật nặng ở mặt đất nên khuỵu đầu gối xuống, không nên cúi gập lưng. Giữ lưng thẳng khi giặt quần áo hoặc khi là quần áo. Ngay cả khi nghỉ ngơi cũng giữ lưng ở thế thẳng. Khi nằm nghỉ hoặc ngồi ở ghế và khi lái xe nên có một cái đệm mỏng, mềm đặt ở sau lưng. Nên ngủ ở giường phẳng và tất nhiên phải có cái gối đầu. Nếu nằm nệm thì nệm đó không bị võng xuống. Lý tưởng nhất là vài năm thay nệm 1 lần. Không nên đi giầy gót quá cao. Khi đi công tác xa phải đi đường dài bằng mọi phương tiện tốt nhất là đứng dạy từ 5 đến 10 phút sau một giờ ngồi. Mỗi buổi sáng và buổi tối có thể tập bài thể đơn giản sau đây: Nằm sấp, cho hai tay lại sau lưng, nâng đầu và vai khỏi giường để lưng tạo thành đường cong. Giữ ở tư thế này khi đếm đến 3. Hạ đầu và vai từ từ ở tư thế ban đầu và nằm nghỉ. Tập như thế ít nhất 10 lần sẽ giúp bạn đỡ đau lưng trước khi đi ngủ và sảng khoái sau giấc ngủ trong đêm.
Minh Dũng- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Tạc hại của ma tý với sức mạnh trí tuệ

Giới khoa học quốc tế thật sửng sốt khi nghe tới con số là 1,5 tỷ con nghiện trên thế giới số liệu mới nhất được đưa ra tại Hội nghị quốc tế về tâm thần học lần thứ X tại Madrid – Tây Ban Nha.
Theo đánh giá của WHO – tổ chức ý tế thế giới thì hiện tại 1,5 tỷ người nói trên đang phải chịu một dạng rối loạn về tâm thần, thần kinh hay những rối loạn trong ứng xử nào đó liên quan tới sự lạm dụng rượu, thuốc và đặc biệt là ma túy, 3 phần 4 trong số đó sống ở các nước đang phát triển. Cũng theo đánh giá của các chuyên gia y tế thế giới, số nạn nhân trên được phân ra như sau: 400 triệu bị rối loạn lo âu, 340 triệu bị rối loạn về tâm trạng (như hay cáu gắt vô cớ), 250 triệu bị rối loạn về tính cách, 60 triệu bị thiểu năng tâm thần, 45 triệu tâm thần phân liệt, 22 triệu sa sút trí tuệ, hơn 40 triệu động kinh, 8 triệu chấn thương não, trong đó hơn 1,1 tỷ do nicotine, 100 triệu do rượu và 15 triệu do các loại ma túy khác. Tỷ lệ người bị rối loạn thần kinh dẫn tới mắc bệnh thần không vượt quá 1%, bởi vậy các dịch vụ y tế chỉ xem nó như một đỉnh núi băng trôi, số còn lại chiếm một tỷ lệ lớn thì lại vô hình. Không giống như những căn bệnh không truyền nhiễm như huyết áp cao, viêm khớp hay đái đường, những rối loạn về tâm thần và thần kinh chiếm một tỷ lệ lớn gây tình trạng mất khả năng lao động, đồng thời là gánh nặng kể cả về mặt tinh thần và tài chính cho xã hội. Tuy nhiên, không thể thống kê đầy đủ những nỗi đau khổ của nhân loại và sự nhục nhã của những người mắc căn bệnh rối loạn thần kinh và những người xung quanh, những nạn nhân của sự tẩy chay và phân biệt đối xử. Ở một số nước họ hoàn thành bị ném ra ngoài lề xã hội. Sức mạnh trí tuệ của một dân tộc một phần tùy thuộc vào thành công của những cố gắng vì sức khỏe cộng đồng nhằm đấu tranh chống lại những rối loạn thần kinh tâm thần, và giảm tác hại của những chất có khả năng gây ra những hậu quả trên. Nguồn tài trợ cho những cố gắng này cũng là vấn đề đáng bàn. Chất lượng của môi trường xã hội cũng ảnh hưởng tới tính dễ bị tổn thương của con người do bệnh tâm thần và tiến trình phát triển của căn bệnh. Tình trạng nghèo đói, quá đông dân, thất nghiệp, không an toàn lao động, những vấn đề trong quan hệ vợ chồng, những tai họa tư nhiên và do con người, nạn cưỡng bức phụ nữ và trẻ em bạo lực giữ các sắc tộc, vấn đề người già đều là những yếu tố gây hậu quả tai hại tới sức mạnh trí tuệ của toàn dân. Cũng tại hội nghị này, ông Hirodhi Nakajima, Tổng giám đốc WHO đã nhấn mạnh tới nạn con nghiện và tệ phụ thuộc vào tân dược – mức tiêu thụ quá nhiều các loại ma túy trái phép, rượu, thuốc lá và các chất an thần khác cũng là một tác động quan trọng tới sức mạnh trí tuệ và sức khỏe của cộng đồng nói chung. Sức mạnh trí tuệ được đề cập tới trong khuôn khổ của ngành tâm thần học. Quan niệm này cùng với sự cần thiết phải giúp đỡ có hiệu quả những quốc gia thành viên từ đầu năm nay đã dẫn tới việc phối hợp hành động trên quy mô quốc tế về những vấn đề liên quan tới rối loạn thần kinh và tâm thần về cách ứng xử của con người với những con nghiện và kết quả là sự ra đời của Ủy ban nghiên cứu về sức mạnh trí tuệ và phòng ngừa nạn nghiện ma túy của Tổ chức y tế thế giới gọi tắt là MSA. Theo quan điểm của các khoa học thế giới, gần như khắp các quốc gia, những nạn nhân ma túy và nghiện rượu đều được chăm sóc trong cùng một khoa tâm thần như những bệnh nhân mắc các căn bệnh rối loại thần kinh và hành vi khác. Mặt khác, một tài liệu nghiên cứu về não và hành vi của con người sẽ cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về những cơ chế bắt nguồn từ những rối loạn thần kinh và những con nghiện. MSA đặc biệt chú trọng tới những lĩnh vực hoạt động chủ yếu như sức mạnh trí tuệ, phòng ngừa những rối loạn tâm thần, hành vi, thần kinh do con nghiện ma túy, chuẩn đoán và điều trị sớm cho những người mắc bệnh, giúp họ sớm thích nghi với tâm lý xã hội, cũng như những vấn đề về sắc tộc, tôn giáo gắn với quyền con người được đặt ra trong lĩnh vực này. Để đối đầu với nạn dịch này trên thế giới, WHO đã phát động một chương trình giáo dục toàn cầu gọi là “Liên hiệp quốc vì sức mạnh trí tuệ của loài người” nhằm kêu gọi mọi quốc gia trên toàn thế giới hãy hợp sức đẩy lui chúng, mang lại sự bình yên cho mọi nhà, nhất là niềm vui cho những gia đình có con em đang sa vào con đường tội lỗi trên.
Vân Thanh- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Những lối sống bí ẩn của Picasso

Cuối tháng 10 năm 1996, người Anh John Richardson phát hành tập II tác phẩm đồ sộ “Họa sĩ của cuộc sống hiện đại”. Sau đây giới thiệu một số sự thật mới được khám phá về thiên tài lớn của nghệ thuật hiện đại, qua cuộc phỏng vấn tác giả của phóng viên tập chí Le Nouvel Observateur.
Về truyền thuyết một Picasso, trẻ em kỳ dị, tác giả cho biết các bức tranh tuổi thơ ấu không còn. Bức tranh đầu tiên biết được “Hercule” vẽ năm 9 tuổi, không thể hiện một kỳ tài đặc biệt nào. Nhưng Picasso ưa muốn người ta tin rằng ông là một thiên tài có những khiếu bẩm sinh: theo ông, nghệ thuật là thần diệu và ông là thuật sĩ của ma thuật đó. Sự thật thì khác hẳn: Picasso đã làm việc bền bỉ, không ngừng, tự mình tạo nên thiên tài riêng. Về khuynh hướng thì năm 1907 Picasso công nhận nghệ thuật người da đen có vai trò quan trọng đối với mình. Nhưng năm 1939, ông lại ưa nói rằng nghệ thuật iberic (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) đã thực sự có ảnh hưởng đến “Những cô gái Avignon”. Trong những năm đó, Picasso muốn khôi phục những nguồn gốc Tây Ban Nha trong nghệ thuật của mình: Từ “Guernica”, Picasso trở nên biểu tượng của những người cộng hòa Tây Ban Nha và muốn giữ vai trò đó. Năm 1894, theo Jacqueline Roaque, người tình cuối cùng của Picasso cho biết, là một giai đoạn có tính quyết đoán. Em gái Picasso là Conchita năm đó bị bệnh bạch hầu. Lúc đó Picasso 13 tuổi, yêu tha thiết em gái, ước nguyện rằng sẽ không bao giờ vẽ nữa nếu em được cứu sống. Nhưng Conchita chết tháng giêng 1895. Thế mà Picasso biết rằng ước nguyện của mình là không thể thực hiện: Không bao giờ có thể thôi vẽ. Picasso cảm thấy có trách nhiệm đối với cái chết của em gái, cảm xúc đó theo đuổi ông suốt đời và hướng những quan hệ của ông với các phụ nữ. Tác giả cũng khám phá ra hai người tình mới của Picasso. Năm 1915, trong khi bạn gái Eva Gouel được mổ vì ung thư, Picasso phải lòng say đắm Gaby Epeyre (sau là Lespinasse), ở gần nhà. “Anh yêu em với tất cả các màu”, Picasso viết cho Gaby Depeyre, ý nói “yêu em” sáu lần bằng sáu màu khác nhau. Picasso còn thích chơi lòng các chữ của tên hai người. Và Picasso ăn mặc chải chuốt, một tay cầm mũ, một tay cầm hộp sô – cô – la và đứng nhìn lên cửa sổ có Gaby. Picasso muốn cưới Gaby nhưng nàng lấy người khác. Sau đó có Irène Lagut. Lâu nay người ta cho sách của Guillaume Apollinaire, “Người phụ nữ ngồi”, là ảo tưởng, nhưng Richardson đã tìm thấy trong kho lưu trữ ở Floarence, những bức thư của Irene Lagut viết cho người theo chủ nghĩa vị lai, Ardengo Soffici xác nhận rằng quyển sách đó kể về sự liên hệ của Irene với Picasso. Với sự tòng phạm của Apollinaire, Picasso đã bắt cót Irene. Đó là màu hè năm 1916. Hai ông đã đưa Irene đến quán rượu rồi đưa Irene về nhà Picasso ở Montrouge. Picasso nhốt Irene ở đây, nhưng cửa sổ không khóa nên Irene thoat được. Người ta có cảm tưởng rằng Picasso vừa muốn tách mình riêng ra để làm việc vừa cần tiếp khách không ngừng. Picasso phần nào như con ma cà rồng. Ngay cả khi 80 tuổi, Picasso tỏ ra rất dễ ưa. Họ ăn trưa, đến bãi biển, ăn tối. Cuối ngày thi mệt lử: Picasso đã lấy hết sức lực, sức sống mãnh liệt của người khác. Khi đã moi được năng lượng đó, Picasso quay về xưởng của mình và làm việc suốt đêm. Vì vậy Picasso cần có những người khác, luôn luôn cần có những người bạn xung quanh mình, các phụ nữ ở lại trong nhà, trông bếp hoặc chăm sóc trẻ con, còn Picasso đi gặp lại bạn ở quán rượu để tranh luận. Picasso vừa cần tình yêu của các bà vừa cần sự tận tụy của các ông. “Thuốc phiện được Picasso dùng làm cái lọc tình yêu để quyến rũ Fernande, tạo điều kiện cho họ gần nhau. Đó là thời kỳ Fernande đã quen sử dụng ma túy, thời kỳ mà người ta muốn thử nghiệm những cảm giác mới, mà người ta sẵn sàng tìm những cảm giác đó qua những buổi tối kỳ lạ”, Richardson viết trong sách của mình. Picasso rất thích thuốc phiện, nói rằng thuốc phiện có một mùi vị thông minh. Fernande kể rằng trong một buổi tối năm 1908, nàng và Picasso đến gặp Apollinaire, Marie Laurencin, Max Jacob, nhà toán học Maurice Princet… và trong buổi ăn tuối họ hít cần sa. Thế là Picasso trở nên cuồng loạn, la hét rằng đã khám phá ra nhiếp ảnh, không có gì để học nữa, rằng một ngày nào đó một bức tường sẽ ngăn cản sự phát triển của mình, sẽ cản trở mình tìm hiểu và đi sâu vào những bí mật của một nghệ thuật mà Picasso muốn luôn luôn mới mẻ và tươi mát.
Nguyễn Văn Thiêm- Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Những căn bệnh của mùa đông

Mỗi mùa đều có những điều kiện khí hậu khác nhau và do đó cũng gây ra những căn bệnh khác nhau. Dưới đây là những lời khuyên của bác sĩ để giúp chúng ta ứng phó được với mùa đông giá lạnh sắp tới.
Tần số bệnh viêm mũi – hầu càng tăng khi trời càng ẩm ướt
Chính vào những tháng ngày lạnh giá nhất của mùa đông, các căn bệnh về đường hô hấp thường xuất hiện, đặc biệt là các bệnh viêm mũi – hầu, viêm thanh quản và viêm phế quản. Có tới 5 họ hàng nhà vi rút liên quan tới dịch viêm mũi – hầu, đồng thời có nhiều yếu tố khác cũng can hệ tới như khí hậu ẩm ướt sẽ làm cho phế quản nhạy bén hơn, tạo điều kiện dễ dàng cho sự tăng sinh của các virút. Mặc khác, việc sưởi ấm trong các khu nhà ở sẽ làm khô màng nhầy và giảm sức đề kháng của mũi. Mùa đông, nhiệt độ trong phòng thường được sưởi ấm + 18 độ C. Hơn nữa, chẳng phải dễ dàng duy trì được một lượng nước đủ trong khí quyển, và kết quả là người ta phải hít thở một không khí quá khô, có hại cho cả mũi và họng. Bởi vậy, để duy trì một đọ ẩm thích hợp trong phòng, chỉ cần đặt một chiếc bình hay chậu chứa nước nhỏ gần lò sưởi. Điều hòa nhiệt độ cũng làm khô không khí trong phòng làm việc, giải pháp duy nhất trong trường hợp này là uống nước đều đặn trong suốt ngày. Để tránh khô mũi, có thể dùng các ông thông nhỏ với điều kiện không chứa các chất làm có mạch như éphédrine bởi nó sẽ có cơ hội hủy hoại lớp màng nhầy ở mũi.
Không khí lạnh càng dễ dàng gây các bệnh tim mạch
Vào đúng giữa mùa đông khắc nghiệt, người ta thường nhận thấy có sự gia tăng về bệnh tim mạch ở số người lớn tuổi. Theo nghiên cứu cho thấy có hai hậu quả liên quan tới sự co khít của các mạch máu như giảm sự lưu thông máu và tăng huyết áp. Một sự tấn công khác vào nhưng cơ thể yếu ớt đó là sự thay đổi thời tiết đột ngọt. Bởi vậy các bác sĩ khuyên những người lớn tuổi và những người mắc bệnh tim nên tránh phơi mình ở những nơi lạnh giá và nhất là có gió mạnh.
Bệnh cảm, cúm tăng đáng kể do cái rét
Thông thường loại Myxovirút influenza A và B (loại virút gây bệnh cúm) gây ra bệnh cúm vào tháng giêng. Do hệ miễn dịch bị suy giảm, bệnh cúm có thể kéo theo những biến chứng về phổi và tim nghiêm trọng ở những người yếu. Nhóm những người có cơ mắc căn bệnh trên gồm những người trên 65 tuổi, những người mắc bệnh về tim (bệnh tim huyết áp, bệnh về van tim và các bệnh động mạch vành) cung như những người mắc bệnh về hô hấp. Bởi vậy các bác sĩ khuyên những người yếu nên đi tiêm vắcxin ngay từ tháng 10.
Vân Thanh- Trí Thức Trẻ – số 18 – tháng 12 – 1996.

Người nhiễm H.I.V hy vọng gì? – Phần 3

Phóng viên: Thưa giáo sư, Đoàn thanh niên có thể làm gì để chăm sóc, hỗ trợ những người nhiễm HIV?
Giáo sư Nguyễn Văn Thưởng: Ở nước ta, người nhiễm HIV phổ biến ở độ tuổi 30 đến 39, có chiều hướng chuyển sang nhóm tuổi trẻ hơn: 20 đến 29 tuổi và dưới 20 tuổi. Báo cáo của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS cho biết 60% số người nhiễm HIV đang ở độ tuổi thanh niên. Vì vậy, việc tổ chức Đoàn thanh niên tiến hành công tác chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV về tinh thần và vật chất rất quan trọng. Công tác chăm sóc, hỗ trợ này sẽ trước hết làm giảm sự mặc cảm, sự lo lắng, sự bi quan của người nhiễm HIV giúp họ lấy lại và giữ vững niềm tin vào bản thân, vào cuộc sống hiện tại, đồng thời, giúp họ trở lại tham gia học tập, lao động, công tác và các hoạt động xã hội, hòa nhập cộng đồng. Và quan trọng hơn, chính là thông qua các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ của Đoàn thanh niên đối với những người nhiễm HIV sẽ góp phần rất lớn hạn chế sự lan truyền HIV/AIDS trong cộng đồng. Tôi rất hoan nghênh sự ra đời và những hoạt động ban đầu của Quỹ hỗ trợ các hoạt động phòng chống AIDS do báo Tiền Phong và tạp chí Tuổi trẻ Hạnh phúc sáng lập. Một trong những nội dung hoạt động của Quỹ là chăm sóc, hỗ trợ những người là nạn nhân của đại dịch AIDS có hoàn cảnh khó khăn. Hoạt động của quỹ cũng là sự chia sẻ, cảm thông của mỗi người trong cộng đồng với người nhiễm HIV, với bệnh nhân AIDS và cũng chính là cầu nối để những nạn nhân của đại dịch AIDS trở về với tình thương và sự chia sẻ của cộng đồng xã hội. Tôi nghĩ rằng quỹ hỗ trợ các hoạt động phòng chống AIDS cần được tổ chức Đoàn phát triển ở các địa phương, cơ sở và cần được tuyên truyền sâu rộng để huy động rộng rãi hơn nữa sự hỗ trợ, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho các hoạt động phòng chống AIDS ngay tại địa phương, cơ sở. Mô hình “Bạn giúp bạn” (nhóm những người nhiễm HIV) cũng chính là hình thức “giáo dục đồng đẳng” giữa những người bệnh với nhau. Đoàn thanh niên cần phối hợp với y tế xã, phường để tiếp tục xây dựng và phát triển mô hình này. Các nhóm “Thanh niên tình nguyện” giúp đỡ, hỗ trợ về vật chất và tinh thần đối với người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS tại cộng đồng là một hoạt động rất cần thiết cần được Đoàn thanh niên phát động và chỉ đạo triển khai ở một số tỉnh, thành phố trọng điểm. Tổ chức các câu lạc bộ “Những người sống với AIDS” tại cộng đồng để tập hợp những người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS, hướng dẫn sinh hoạt, tìm hiểu các khó khăn, nguyện vọng của họ.Trước mắt, Đoàn thanh niên nên chọn một số địa phương có số người nhiễm HIV cao như thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, An Giang là nơi ban phòng chống AIDS – Bộ Y tế đang chỉ đạo về công tác tư vấn chăm sóc người nhiễm HIV tại cộng đồng. Đoàn thanh niên cũng cần phối hợp với y tế các cấp hỗ trợ, đào tạo đội ngũ thanh niên thành các tuyên truyền viên, các tư vấn viên để chăm sóc, hỗ trợ, tư vấn người nhiễm HIV tại cộng đồng. Đồng thời cần có sự phối hợp của Đoàn thanh niên với tổ chức y tế các cấp để thực hiện các biện pháp truyền thông, tư vấn, nhằm làm giảm sự lan truyền HIV trong thanh niên, giáo dục cho thanh niên không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV. Chính sự không phân biệt đối xử này là yếu tố cơ bản để thúc đẩy việc chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV được tốt hơn. Sự phối hợp của đoàn thanh niên với các tổ chức y tế ở cơ sở cùng chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và chắc chắn sẽ đạt hiệu quả.
Phóng viên: Cảm ơn giáo sư.
Ngọc Tình – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Người nhiễm H.I.V hy vọng gì? – Phần 2

Phóng viên: giáo sư cho biết nội dung của công tác chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV?
Giáo sư Nguyễn Văn Thưởng: Công tác chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV là một trong ba yếu tố quan trọng, có liên quan mật thiết với nhau của chương trình quốc gia phòng chống AIDS, bao gồm 4 nội dung như sau:
Quản lý về mặt lâm sàng: Chuẩn đoán sớm, điều trị thích hợp và có kế hoạch chăm sóc, điều trị các bệnh liên quan đến nhiễm HIV.
Điều dưỡng: Thực hiện chăm sóc, thúc đẩy và duy trì các biện pháp vệ sinh, dinh dưỡng, tuyên truyền, giáo dục cá nhân và gia đình biết cách thực hành các biện pháp vệ sinh thông thường để phòng ngừa các bệnh nhiễm khuẩn.
Tư vấn: giúp cho người nhiễm HIV có hiểu biết về một số triệu chứng của bệnh thông thường của chính họ trong tương lai và làm giảm các hành vi nguy cơ làm lây nhiễm HIV sang người khác.
Hỗ trợ về mặt xã hội: Thông tin cho người nhiễm hiểu biết về các phúc lợi xã hội, tạo công việc làm cho những người nhiễm HIV chưa có việc làm người nhiễm HIV trong độ tuổi lao động hoàn toàn có khả năng lao động như người không mang bệnh, giúp đỡ về vật chất cho những người nhiễm HIV có hoàn cảnh khó khăn. Các dịch vụ y tế chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV rất là quan trọng, như: bảo đảm các dịch vụ chăm sóc bệnh nhân tại các cơ sở y tế, bao gồm các dịch vụ chăm sóc ở phường, xã và tại gia đình, cung cấp và hướng dẫn sử dụng các phương tiện phòng lây truyền HIV đối với những người nhiễm HIV như sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục, vô khuẩn các dụng cụ tiêm chích… Nói chung, chi phí cho việc chăm sóc, điều trị bệnh AIDS rất là tốn kém. Ở Mỹ và các nước công nghiệp phát triển, tổng chi phí cho chăm sóc và điều trị một bệnh nhân AIDS, trung bình từ 150 nghìn đến 200 nghìn đô la mỹ cho 1 năm. Ở một số nước như Thái Lan, Malaysia, chi phí trung bình cho một bệnh nhân AIDS là từ 2 nghìn đến 3 nghìn đô la mỹ cho 1 năm. Ở nước ta, một số cơ sở y tế tổ chức công tác chăm sóc, điều trị bệnh AIDS sơ bộ đưa ra con số chi phí khoảng 200 nghìn đến 300 nghìn đồng trong một ngày cho một bệnh nhân. Tuy nhiên, chi phí trên chưa tính chi phí đầu tư các trang thiết bị y tế phục vụ việc chuẩn đoán bệnh và theo dõi diễn biến bệnh như máy đếm tế bào CD4 khoảng 700 triệu đồng cho 1 máy, thiết bị diệt trùng là trên 100 triệu đồng cho 1 bộ. Hiện nay, ở nước ta số người nhiễm HIV/AIDS đang gia tăng, tất yếu cũng sẽ gia tăng số bệnh nhân AIDS đang sinh sống làm việc ở cộng đồng. Chúng ta mới chỉ quản lý, chăm sóc, hỗ trợ được từ 30% đến 50% số người nhiễm HIV. Do đó, việc quản lý, chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS tại cộng đồng và giải quyết các vấn đề tâm lý của người nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS càng trở nên cấp bách.
Ngọc Tình – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Người nhiễm H.I.V hy vọng gì? – Phần 1

Theo sự loan báo chính thức của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS, đến ngày 11 tháng 10 năm 1996, ở nước ta đã có 4.346 người bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 562 bệnh nhân AIDS và 337 trường hợp tử vong. HIV đã được phát hiện ở 41 trên 53 tỉnh thành, đặc biệt là ở các tỉnh miền Nam, miền trung và Tây Nguyên. Riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 50% tổng số người nhiễm HIV/AIDS. Cuộc hội thảo “Đại dịch AIDS với tuổi trẻ và tuổi trẻ Việt Nam phòng chống AIDS” do quỹ hỗ trợ hoạt động phòng chống AIDS do báo Tiền Phong và tạp chí Tuổi trẻ hạnh phúc sáng lập, phối hợp với tổ chức Y tế và giáo dục tình nguyện Hoa Kỳ tổ chức vừa qua Hà Nội đã đưa ra những giải pháp tích cực nhằm ngăn chặn và đẩy lùi từng bước đại dịch AIDS. Lần đầu tiên, vấn đề chăm sóc và hỗ trợ những người nhiễm HIV/AIDS. Một trong những giải pháp phòng chống AIDS được đề cập đến trên diễn đàn cuộc hội thảo lớn này. Phóng viên Báo Tiền phong đã có cuộc trao đổi với giáo sư, Phó tiến sĩ Nguyễn Văn Thưởng, Thứ trưởng Bộ y tế, trưởng ban phòng chống AIDS – Bộ y tế, về vấn đề này.
Phóng viên: Thưa giáo sư, tại sao phải đặt vấn đề chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS?
Giáo sư Nguyễn Văn Thưởng: Khác với việc nhiễm khuẩn khác, nhiễm HIV/AIDS có thời gian ủ bệnh tương đối dài, trung bình từ 8 đến 10 năm ở người lớn tuổi, 3 đến 6 năm ở trẻ em. Trong thời gian ủ bệnh, người bệnh vẫn cảm thấy khỏe mạnh, sinh hoạt và làm việc bình thường. Nhưng chính họ lại có khả năng truyền bệnh cho người khác rất cao qua các hành vi tình dục không an toàn, qua dùng chung các dụng cụ tiêm chích không được vô khuẩn. Đến nay, chưa khẳng định được rằng tất cả những người nhiễm HIV sẽ phát triển thành bệnh nhân AIDS, nhưng một khi nhiễm HIV đã phát triển thành AIDS thi tỷ lệ tử vong gần như là 100%. Những cố gắng của chúng ta để ngăn chặn sự lây truyền HIV hay nói tổng quát là phòng chống AIDS, không chỉ đơn thuần là công tác “tuyên truyền” giáo dục thông tin (mặc dù đây là giải pháp cơ bản, chủ yếu, hữu hiệu nhất), mà còn phải đảm bảo các dịch vụ y tế và xã hội, để biến sự nhận thức thành thay đổi hành vi cá nhân. Nếu tổ chức có hiệu quả công tác tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ cho những người bị nhiễm HIV, và bệnh nhân AIDS, tức là tránh được sự phân biệt đối xử với họ, củng cố lòng tin cho họ, hướng tới thay đổi hành vi nguy cơ lan truyền HIV của họ, nhằm đạt mục đích cuối cùng là hạn chế sự lây truyền HIV trong cộng đồng.
Ngọc Tình – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.

Cổ thụ tự phun lửa

20 giờ 96 phút ngày 27 tháng 11 năm 1993, trong khuôn viên khu nhà trẻ Tân Tương thuộc cơ quan Tỉnh ủy Hồ Nam – Trung Quốc, cây long não cổ thụ trên 500 năm tuổi bỗng nhiên cuộn khói mù mịt, một loáng sau, từ 4 miệng lỗ hổng ở phần rễ trồi dưới gốc và thân cây lửa đỏ phun ra phè phè. Được cấp báo, đúng 3 phút sau một phân đội cảnh sát chữa cháy của Cục cảnh sát thành phố Trường Sa đưa 2 xe vòi rồng tới, lãng nước được nhanh chóng triển khai và các luồng nước áp suất mạnh phun tới tấp vào những miệng nhả lửa của cây đại thụ, ngọn lửa dần dần bị dập tắt. Hú vía, nhưng thật bất ngờ, khi các chiến sĩ chữa cháy đang thu lãng nước, chuẩn bị rút quân thì từ các miệng rồng trên thân cổ thụ lại phụt lửa dữ dội hơn như cố tình trêu người đội chữa cháy, họ lại phải triển khai chiến đấu và 2 chiếc xe téc chữa cháy đã phải luân phiên nhau phun tới trên chục mét khối nước mà cũng chỉ làm lưỡi lửa dịu bớt thôi. Lúc này, ông Tiêu Thường Tích, Phó thị trưởng thành phố Trường Sa nghe tin dữ liền đánh xe có đến hiện trường, ông lập tức hạ lệnh nhanh chóng điều thêm xe chữa cháy và cho mời chuyên gia lâm nghiệp đến bàn phương án dập lửa. Tới 1 giờ 21 phút sáng hôm ngày 28 tháng 11, có một chiếc xe chữa cháy kiểu phun bọt hóa học được điều tới. Sau khi bị phun lấp bằng những đụn bọt trắng xóa, mấy chiếc miệng rồng, dưới gốc đại thụ đành tắt nhưng mẫy lỗ hông trên thân cây cách mặt đất khá cao vẫn tiếp tục phun lửa mạnh hơn, rồi phun bọt không với tới. Khoảng 3 giờ sáng, phân đội cảnh sát chữa cháy chi viện một xe thang, thế là các chiến sĩ chữa cháy chia thành 4 mũi giáp công trên dưới, phải trái, đồng thời khóa miệng rồng lửa. Sau mấy tiếng đồng hồ vật lộn, cả 4 miệng rồng trên cây long não cổ thụ đều ngừng phun lửa. Khi kết thúc trận đánh đồng hồ chỉ 5 giờ 30 phút sáng. Rồng lửa chui ra từ thân cổ thụ hoành hành ra oai suốt 9 giờ sáng đồng hồ, với sức lửa thực tế, theo lý thuyết thì đủ để nung đỏ cả ống thép. Nhưng điều khiến mọi người kinh ngạc tới mức không còn tin vào mắt mình nữa là từ thân cây đến miệng lỗ phun lửa ra không hề bị cháy sém, cành lá vẫn xanh tốt, không hề có dấu hiệu héo quắt. Theo ông Chu Tu Quân, Đội phó đội cảnh sát chữa cháy thì từ khi thành lập, đội chữa cháy của ông chưa bao giờ phải chữa cháy một vụ cháy vất vả như vậy. Về nguyên nhân phun lửa của cổ thụ cho tới nay vẫn chỉ là phỏng đoán. Có người cho rằng, cây long não này quá già nua, thân và rễ đã bị rỗng ruột, có thể đã ăn thông với kho chứa dưới lòng đất của một loại khí cháy nào đó và dưới tác dụng của áp suất khí quyển, thể khí phun ra, hỗn hợp với oxy trong không khí, tự bốc cháy ở nhiệt độ thích hợp. Nếu còn nghi ngờ, nếu có dịp du lịch Trung Quốc, mời bạn đến thành phố Trường Sa, nằm bên dòng Trường Giang, đến nhà trẻ Tân Tương trong khu cơ quan tỉnh ủy Đảng cộng sản thành phố tỉnh Hồ Nam, bạn sẽ được sờ tận tay cây long não cổ thụ ấy và hỏi chuyện những người được mục kích vụ rồng phun lửa ấy sẽ rõ.
Bùi Hữu Cường – Trí Thức Trẻ – số 17 – tháng 11 – 1996.