Monthly Archives: November 2015

Tính nhút nhát ở con người – Phần 3

Thay vì che giấu nói mãi, cần phải đưa nó ra ánh sáng, đây là cách tốt nhất để nó không còn tồn tại trong cuộc sống của chúng ta. Đồng thời với việc làm đó, ở nhiều nước người ta đã mở các cơ sở luyện tập cho những người có tim chuột. Các hình thức rèn luyện cụ thể rất phong phú, tất cả đều nhằm vươn tới mục tiêu là làm cho những người nhút nhát có những suy nghĩ lạc quan, tin tưởng và khả năng của mình, vững vàng bắt tay vào những công việc tưởng chừng không phù hợp với năng lực bản thân. Các nhà tâm lý học Ba Lan còn đặt ra thêm một mục tiêu nữa là giúp những người nhút nhát nhận ra giá trị đích thực của mình, trong đó có cả vẻ đẹp thể xác và tâm hồn. Không phải không có ai đó lấy làm lo ngại rằng, nếu thế giới này hết những người nhút nhát, mọi người nói thẳng với nhau điều mình suy nghĩ, thì sẽ kinh khủng biết chừng nào. Tính nhút nhát, mặc dù có thể làm cho nhiều người khó chịu, song nó có mặt tích cực của nó. Chẳng hạn như nhờ có nó mà những người yêu nhau tặng hoa hay quà thay cho lời tỏ tình trực tiếp. Nhà tâm lý học Pháp Paul Denis đã phân tích một ý rất hay như thế này: “Một số người do nhút nhát của mình, đã phát triển khả năng tưởng tượng tuyệt vời, bởi vì trong thực tế họ không sống một cuộc đời thực, mà sống bằng cái họ sáng tạo trên những trang tác phẩm của mình. Các ông chủ có thể thích những công nhân nhút nhát, bởi vì, theo như cách lý giải của nhà tâm thần học Christophe Andre: “Họ không kêu ca, phàn nàn, không đủ dũng cảm để từ chối những việc làm không công, không phản kháng, không tra tấn các ông chủ bằng những đòi hỏi tăng lương”. Nhưng cũng có người lên tiếng cảnh cáo người lên tiếng cảnh cáo rằng sự ngoan ngoãn, dễ bảo ấy chỉ là vẻ bề ngoài thôi. Chưa kể là một khi họ đã có tính nhút nhát thì mỗi lời nói, mỗi việc làm điều được cân nhắc kỹ lưỡng nên người sa vào những cái bẫy cái sẵn chắc chắn sẽ không phải là họ những người được coi là nhút nhát.
Nguyễn Chí Thuật – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 5 – 1996.

Tính nhút nhát ở con người – Phần 2

Một nhà phân tích tâm lý học người Pháp, ông Paul Denis giải thích: “Tính nhút nhát là một dạng tự yêu mình trong đầm đìa nước mắt. Người nhút nhát không sợ người khác mà là lo sợ, không biết những người ấy sẽ nhìn nhận mình như thế nào”. Yếu tố làm nên toàn bộ tính nhút nhát ở chúng ta không chỉ là gia đình với câu nói cửa miệng “Cứ liệu hồn đấy”, mà còn có sự góp mặt của tôn giáo và xã hội. Tôn giáo coi ý định của ai đó muốn mình nổi bật trong đám đông là một tội lỗi. Xã hội dạy chúng ta phải biết kiềm chế tình cảm trước những người không quen, nhất là người khác giới. Chế độ phong kiến hay tư sản định ra nhiều tiêu chuẩn cho người ta làm theo nếu muốn xứng đáng là con nhà quyền quý, dòng dõi. Tâm lý học hiện đại coi gia đình, tôn giáo, xã hội, văn hóa là người có lỗi để đến bây giờ vẫn còn có những nam nữ thanh niên nói với nhau “Hôm nay trời đẹp quá nhỉ” mà trong sâu thẳm trái tim mình thì muốn bảo: “Anh yêu em”, vẫn còn những công nhân xoa hai tay trước mặt sếp: “Công việc ở đây rất hấp dẫn” thay cho câu: “Tôi muốn ông tăng tiền cho tôi”. Có người nghĩ rằng tính nhút nhát là sự bảo đảm cho việc duy trì một trật tự đã được thiết lập. Người nhút nhát thì không bao giờ dám ngăn cản hoặc làm phiền ai. Kết quả nghiên cứu tâm lý học cho thấy là xã hội nào càng tuân thủ truyền thống bao nhiêu thì số người nhút nhát càng cao bấy nhiêu. Người ta đã tiến hành điều tra ở Nhật Bản và có được những con số rất là thú vị. Khoảng 60% người Nhật khẳng định mình nhút nhát, 82% cho rằng mình có tính đó hoặc thỉnh thoảng cũng cảm thấy như vậy 51% người Pháp thừa nhận là đôi khi tính nhút nhát đã làm khổ họ. Hoàn cảnh bộc lộ tính nhút nhát của nhiều người hầu như giống nhau. Điển hình nhất vẫn là gặp thủ trưởng ở nơi làm việc, thổ lộ tình yêu của mình với người khác, phát biểu trước đám đông. Đó là những thời điểm không mấy dễ chịu trong cuộc sống thường ngày, cũng có người chiến thắng được ở một mức nào đó, nhưng cũng có người bị ám ảnh suốt đời. Nhưng người thực sự nhút nhát thường chọn cho mình một nghề ít phải tiếp xúc với nhiều người. Chẳng hạn họ tránh xa nghề kinh doanh, thích những công việc trầm lặng, như lưu trữ, nghiên cứu, thông tin. Một sinh viên y khoa, vốn tính nhút nhát thì sẽ không nghĩ đến chuyện mở phòng mạch tư nhân mà sẽ chọn nơi công tác là phòng nghiên cứu và tự giam mình trong bốn bức tường với lũ chuột, lũ thỏ dùng làm vật thí nghiệm. Đời sống tình cảm của những người có tính nhút nhát cũng không mấy khi trọn vẹn hoàn toàn. Bởi vì đã nhút nhát thì không khéo thể hiện tình cảm và chấp nhận sự cô đơn. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn bất lực trước tính nhút nhát của con người. Các chuyên gia tâm lý học cho rằng chỉ cần thừa nhận mình có tính nhút nhát thì đó đã là một thắng lợi rồi.
Nguyễn Chí Thuật – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 5 – 1996.

Tính nhút nhát ở con người – Phần 1

Diễn viên Kiêm Đạo Diễn điện ảnh mỹ Woody Allen, trong khi trả lời phỏng vấn luôn có động tác dùng các ngón ở bàn tay trái xoa các ngón ở bàn bên phải.
Ở bất cứ đâu cũng vậy, bên cạnh những người mạnh dạn, thậm chí ngổ ngáo, có không ít người nhút nhát, cái gì cũng sợ, động một tý là đỏ mặt, nói không nên lời. Tâm lý học gần đây đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này và đưa ra những kết luận thú vị. Tính nhút nhát được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Có người đứng trước mặt thủ trưởng là đầu óc rối bời, bao điều hay ho quên sạch ấp úng như đứa trẻ có lỗi. Lại có người khi nói chuyện với người yêu hẳn hôi mà mặt thì cúi gằm, dáng điệu như đi đưa đám. Tính nhút nhát cũng làm cho không ít người im lặng suốt bữa tiệc mà thành phần chỉ gồm toàn bạn bè thân thiết nhưng vẫn sợ nói ra những điều không phải phép. Sự nhút nhát xui khiến người ta làm những việc rất là vô lý, chẳng hạn như xoay mãi chiếc bút bi trong tay, lau kính không biết chán, cười gượng gạo trong những hoàn cảnh chẳng có gì phải cười. Đối với những người mà tính nhút nhát giống như con quỷ nấp kín trong mình thì dù cố gắng đến đâu để thoát ra cũng vô ích, chân tay, và giọng nói vẫn run, mặt vẫn đỏ bừng. Có một câu hỏi được đặt ra, tại sao tính nhút nhát lại có sức mạnh ghê gớm vậy? Tại sao chúng ta không thể chiến thắng nó? Câu trả lời rất đơn giản, tại vì nó bám rễ rất sâu trong chúng ta. Nó sinh ra trong cái ngày mà bố ta nói với ta bằng một giọng khác thường khi ta còn bé tẹo: “Liệu hồn đấy!”. Các chuyên gia tâm lý học đã truy tìm được nguyên nhân tính nhút nhát đến bệnh hoạn ở một số người. Thủ phạm chính không phải gì khác mà là cách giáo dục. Nhà tâm lý học người Pháp khẳng định: “Một đứa trẻ được nuôi dạy theo những nguyên tắc khắt khe, đại loại: không nên nói chuyện với người lạ mặt, không được nhìn chằm chằm vào mắt người khác, không được làm phiền ai những mệnh lệnh đó chúng sẽ còn thực hiện trong nhiều năm sau đó của cuộc đời. Nếu người lớn nhồi vào đầu trẻ từ bé, rằng những điều chúng nói chẳng ai quan tâm, rằng điều chúng làm là xấu, thì dĩ nhiên sau này chúng chẳng bao giờ dám sáng tạo bất cứ cái gì, vì luôn nơm nớp sợ rằng thái độ cũng như việc làm của mình bị đánh giá tiêu cực. Điều ám ảnh này làm cho quan hệ của trẻ với những người khác chẳng còn giá trị gì nữa.
Nguyễn Chí Thuật – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 5 – 1996.

Người biết 100 ngoại ngữ

Một vài năm gần đây, ở Maxcova lan truyền tin đồn: Viện sĩ thông tấn, giáo sư, chủ nhiệm bộ môn thuộc trường Đại học Nhân văn quốc gia Liên bang Nga xéc gây xta rơ xtin, 43 tuổi là người biết 100 ngoại ngữ một trong 7 người biết nhiều ngoại ngữ nhất thế giới. Để xác minh hư thực, trung tuần tháng 4 năm 1996 vừa qua phóng viên báo “tin tức” đã phỏng vấn việ sĩ.
Thưa viện sĩ, thế giới có bao nhiêu thứ tiếng
Khoảng 6 nghìn thứ tiếng và thổ ngữ.
Thế viện sĩ biết bao nhiều?
Đối với người biết nhiều ngoại ngữ, khó trả lời chính xác câu hỏi đó. Tôi biết khoảng 100 thứ tiếng.Trong đó có từ 15 đến 20 thứ tiếng tôi thạo, đọc, nói, viết, nghe tốt. Một số khác thì kém hơn: đọc tốt, nói kém.
Vì sao có nhiều người, cả đời chỉ học một ngoại ngữ thấy khó, điều đó có phải là bẩm sinh không?
Không, biết nhiều ngoại ngữ thì khó chứ muốn biết giỏi một thì không khó. Nó phụ thuộc vào nghị lực và lòng nhẫn nại của người học.
Theo viện sĩ, ngoại ngữ nào khó nhất?
Tiếng Nhật và tiếng Trung Quốc, có hàng nghìn bộ chữ tượng hình cần phải nhớ. Về ngữ pháp, khó nhất là tiếng Ap kha di a – nước cộng hòa vùng Capcado. Dễ nhất là quốc tế ngữ.
Hiện nay cần gì đến quốc tế ngữ, khi tiếng Anh được coi gần như là ngôn ngữ giao lưu quốc tế?
Tất cả chỉ là tương đối. Thị hiếu của loài người cũng luôn thay đổi. Có lúc tiếng Pháp, tiếng Đức, rồi cũng có lúc tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hà Lan đã trở thành ngôn ngữ quốc tế. Thắng lợi của nền văn minh phương án cuối cùng, vào thời đại chúng ta thế cũng là đủ.
Viện sĩ nói gì về nguồn gốc của các ngôn ngữ, khi trên trái đất có quá nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Chúng tôi đang chuẩn bị mọi luân chứng khoa học để chứng minh rằng tất cả các thứ tiếng trên thế giới có nguồn gốc duy nhất. Về sau mới phân hóa, phân nhánh. Hiện tượng đó xảy ra cách đây 20 đến 30 nghìn năm trước công nguyên.
Như vậy trong tương lai, loài người sẽ biết dùng tiếng gì để ve vãn, A đam?
Cả cuộc đời tôi đã dành cho công cuộc khám phá tính thống nhất của các ngôn ngữ trên thế giới. Ngày nay kỹ thuật máy tính cũng hỗ trợ cho các nhà ngôn ngữ rất nhiều. Tôi hy vọng với sự nỗ lực của nhiều trung tâm ngôn ngữ trên thế giới, trong khoảng hai thập kỷ nữa chúng tôi sẽ tìm ra bí mật ngôn ngữ của Eva và Adam, chứng minh được tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có chung nguồn gốc.
Thư viện sĩ, có ngôn ngữ nào chỉ dùng riêng cho tình yêu, có ngôn ngữ nào chỉ dùng riêng cho kẻ thù?
Cho đến bây giờ tôi cũng không giải thích được thực té để tỏ tình thì dùng tiếng Ý dễ biểu cảm hơn tiếng Đức, tiếng Nga. Trong tình yêu tất cả đều tỏ tình bằng ngôn ngữ duy nhất là tiếng nói con người. Mặt khác, các ngôn ngữ khác nhau có thể gây ra những hiệu quả thẩm mỹ khác nhau. Tiếng Đức rắn rỏi, tiếng Tây Ban Nha trang nghiêm, tiếng Pháp vui tười hồn nhiên… Hẳn vì thế, hoàng đế La Mã đã từng nhận xét, người ta dùng tiếng Pháp để nói với bạn bè, tiếng Đức để nói với quân thù, tiếng Tây Ban Nha để cầu nguyện thượng đế, còn tiếng Ý, để nói với người yêu…Tôi vẫn tin rằng trong cùng một ngôn ngữ có thể biểu cảm nhiều sắc thái khác nhau. Điều này phụ thuộc vào phương thức diễn đạt. Khi nói một thứ tiếng nào hay đẹp, phong phú tất cả chỉ là tương đối.
Trịnh Văn Qúy – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 5 – 1996.

Nước mắm siêu tốc

Đó là mục tiêu của đề tài NCKH “sử dụng các biện pháp sinh học để sản xuất nước mắm nhanh, đạt chất lượng xuất khẩu” của phó tiến sĩ Nguyễn Văn Bá thuộc trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học – đại học Cần Thơ.
Nước mắm là loại nước chấm không thể thiếu được với người Việt Nam, nước mắm ngon và phải đạt các yêu cầu như đạm, màu sắc, mùi vị và thời hạn sử dụng. Để đạt được các yêu cầu này cần một quy trình sản xuất rất công phu và đòi hỏi nguyên liệu phải là các cơm loại tốt, dụng cụ, tỉ lệ muối, thời gian muối cá thích hợp. Quy trình này tối thiểu hải là 12 tháng. Với thời gian này nước mắm nhĩ thường có độ đạm từ 40 đến 42%. Thời gian bảo quản cả chục năm. Hiện nay, các nhà thùng lớn đã rút thời gian muốn cá từ 12 tháng xuống còn 8 tháng với các loại nước mắm từ 25 đến 30% đạm. Theo các thông tin khoa học, tại Canada và Nhật có những nha khoa học Việt Nam nghiên cứu sản xuất nước mắm nhanh. Chẳng hạn như tại Canada thời gian ủ muối cá chỉ cần 24 giờ để có nước mắm dưới tác động của Protein và Bromeline. Tại Nhật Bản, người ta đã nghiên cứu sử dụng cá muối làm nước chấm giá thành rẻ hơn là nước tương làm từ đậu nành nhưng lại có mùi… nước tương kể cả nước mắm làm trong 24 giờ mùi vị màu sắc vẫn không đặc thù như thói quen sử dụng của người Việt. Trên cơ sở đó, phó tiến sĩ. Nguyễn Văn Bá và nhóm nghiên cứu của ông đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng chế phẩm Proteaz nấm sợi vào sản xuất nước mắm với thời gian ngắn hơn sau… 5 tuần ủ. So với phương pháp cổ truyền, việc sử dụng chế phẩm nấm sợi Aspergillusoryzae sẽ làm tăng tốc độ thủy phân. Sau 5 tuần ủ với 10% chế phẩm nấm sợi, nước bổi cá cơm có hàm lượng đạm ngang bằng nước mắm cá cơm thành phẩm. Những mẫu nước mắm sản xuất từ cá cơm đỏ nguyên liệu sản xuất ra nước mắm Phú Quốc có mùi vị khá là đặc trưng. Chưa có mẫu sản xuất thử với các loại cá tạp, cá nục, cá cơm thường… đối với các vùng sản xuất nước mắm khác. Tuy nhiên đề tài này vẫn gây được chú ý của các nhà sản xuất nước mắm. Xí nghiệp nước mắm Cần Thơ và xí nghiệp nước mắm Chánh Hương An Giang đang nghiên cứu để đưa vào sản xuất thử theo quy trình này. Sẽ có một loại nước mắm siêu tốc. Hãy chờ xem!
Mạnh Nguyên – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 5 – 1996.

Chiến dịch Pepsi xanh

500 triệu đô la Mỹ dùng để thay đổi hình ảnh Pepsi trên thị trường quốc tế.
Một chiến dịch quảng cáo với sự tham gia của Crawford, Agassi và Schiffer.
Vào ngày 2 tháng 4 năm 1996, tại cuộc họp báo quốc tế ở Luân Đôn với mục tiêu nhắm vào thời đại mới và thế hệ kế tiếp của những người uống Cola. Pepsi đưa ra cuộc cải tiến mới “hình ảnh xanh”. Nó sẽ làm thay đổi bộ mặt thị trường quốc tế của Pepsi. Một nhà ga máy bay là 50 nghìn foot vuông ở phi trường Gatwick đã được làm lại hoàn toàn cho việc phát động “Chiến dịch Pepsi xanh”. Phần trọng tâm của chiến dịch quảng cáo mới là sự tham gia của Cindy Crawford “Người phụ nữ số một của Pepsi”, siêu sao quần vợt Andre Agassi và siêu người mẫu Claudia Schiffer. Trước ống kính, của hàng trăm phóng viên quốc tế, Cindy bộc bạch “Tôi rất tự hào là người mẫu gắn liền với hình ảnh Pepsi. Màu xanh của Pepsi mới tượng trưng cho tuổi trẻ, tương lai, tôi nghĩ nó sẽ được thế hệ mới ưa thích. Và tôi cũng rất vui vì vẫn tiếp tục làm người phụ nữ của Pepsi”.
Hình ảnh tương lai mới
Mẫu thiết kế mới khắc họa một nền lưới màu xanh, cách trình bày in sống động và một hình cầu 3 chiều gợi lên hình tượng “Qủa bóng” nổi tiếng của Pepsi. Những kế hoạch tiếp thị và quảng cáo với mức đầu tư hơn 500 triệu đô la Mỹ nhằm tạo lại hình ảnh nước giải khát trên thế giới. Khoảng đầu tư bao gồm việc thay đổi toàn bộ các vỏ chai và lon, tủ lạnh, máy bán lon, tất cả các phương tiện vận chuyển. Ngoài ra, công ty sẽ đưa ra những bảng quảng cáo và hộp đèn ở những quốc gia chính yếu.
Phần lớn 50% thị trường quốc tế của Pepsi sẽ được thực hiện chiến dịch Pepsi xanh trong những tháng tới, ở những thị trường quan trọng bao gồm: Liên hiệp Anh, Tây Ban Nha, Ireland, Scandinavia, Hungari, Balan, Nga, Ai Cập, Saudi Arabia và phần lớn Trung Đông, cũng như Thái Lan, Indonesia, Malaysia và nhiều vùng Nam Á. Đặc biệt tại Việt Nam, với sự thành công của công ty nước giải khát quốc tế IBC sẽ được chọn là nơi đầu tiên phát động chiến dịch với quy mô toàn quốc gia.
Pepsi xanh ra ngoài không gian
Trong số những hoạt động Marketing đầu tiên đã thông báo để phát động “Chiến dịch Pepsi xanh”. Công ty đã khánh thành một chiếc máy bay Concord xanh của hãng hàng không Air France có mang hình ảnh của Pepsi, bắt đầu khởi hành vào trưa ngày 2 tháng 4 năm 1996 vòng quanh 10 thành phố Châu u trong 8 ngày và sẽ trở lại Paris vào ngày 10 tháng 4 năm 1996. Pepsi tuyên bố sẽ phát động một dự án vào cuối năm nay trong mối hợp tác với trạm không gian MIR của Nga. Bước đầu tiên là hai nhà du hành Nga được quay phim vào tuần trước sẽ giương ra một tấm bảng vẽ có biểu tượng Pepsi xanh bên trong phạm không gian MIR. Bảng hiệu này nói lên việc ngay cả trong không gian Pepsi cũng đang chuyển kịch bản và những điều chi tiết của dự án không gian này sẽ được thông báo trong chương trình kế tiếp.
H.T – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 5 – 1996.

Thế nào là “Hư”

Tình cờ, tôi nghe hai cô to nhỏ với nhau: Khó xử nhỉ! Một giọng thương tình. Nhìn ra, tôi thấy cảnh con gà trống đang đuổi con gà mái. Nếu nàng chạy nhanh quá, thì chàng có thể bỏ cuộc lắm, vẫn cô ấy nói. Mà có đuổi cho kịp thì cũng hết hơi, còn sức đâu, cô thứ hai chia sẻ cùng…Thế … chẳng lẽ đứng lại chờ à? Eo ôi! Ai khóa được miệng lưỡi thế gian? Người ta sẽ đồn ầm lên, con bé ấy là hư, là đức hạnh khả nghi. Dại gì dính vào chuyện đạo đức, khó gỡ lắm! Muốn được cả “miếng” lẫn tiếng, đành cứ phải chạy vậy. Nhưng khôn ra thì vừa chạy vừa phải lại ngoái lại hỏi: Em chạy có nhanh quá không anh? Mấy nhà thông thái cứ bàn chuyện đẩu đâu trên trời, những là “mâu thuẫn” với “thống nhất”, những là “đức” với “tài”, những là lý thuyết với thực tiễn, những là trăm ngàn vạn thứ vân vân. Hai cô nọ to nhỏ chuyện trần gian, miếng với tiếng. Cánh đàn ông, nhất là con trai mới lớn, còn sĩ diện lắm, thường bàn nhiều về lý thuyết, về tiếng, về khả năng cải tạo, đổi mới trong tương lai. Còn phái yếu, kể các cô mới lớn, bao giờ cũng cố tìm giải pháp thực tế ngay bây giờ. Cánh đàn ông có thể liều, vứt một lấy một. Phái yếu bao giờ cũng cố có lấy một miếng cầm chắc, nhưng phải giữ cả tiếng, phải được thêm nhiều hơn cái đã chắc có. Có phải vì thế mà kẻ độc mồn bịa ra cái “lòng tham đàn bà”? Tôi chẳng rõ lắm, nhưng có lẽ cái gọi là “lòng tham” ấy thường khuyên phái yếu nên cư xử thực tế hơn, rồi tính thực tiễn này khuyên họ nên khiêm tốn hơn. Và tôi thấy họ khiêm tốn tật, chẳng hạn, trong vô vàn phương án trình với họ, những Hùng, Dũng, những Trí, Đức Tài, những Hồng, Chuyên… họ lại chấm cái phương án tồi nhất, lấy làm chồng. Thời tôi, thế là xong. Xong hẳn. Các bậc hiện nay đang sắp sửa làm mẹ chồng, bố vợ, thì ở thời đang tuổi yêu đương, họ đã có được tư do đáng kể, trong những ranh giới, giai cấp với quan điểm lập trường. Họ được quyền xin ý kiến cấp ủy, nhờ đoàn thể góp ý, trước khi ra quyết định. Cho nên quyết định ấy là có cơ sở đáng tin cậy. Và đáng tin cậy hơn cả là họ thật bụng tin vào những cơ sở đó. Đến thế hệ con cái họ, tức là lớp thanh niên, đang độ tuổi yêu đương hiện nay, thì mọi ràng buộc hầu như đều nhất loạt nới lỏng cho họ, còn họ thì không muốn làm phiền đoàn thể, cấp ủy, thậm chí cả cha mẹ nữa, không cần “Công đoạn” xin ý kiến chỉ đạo. Tự mình nghĩ sao làm vậy. Và trong nhiều trường hợp, làm xong tưởng xong, hóa chưa, vẫn chưa xong hẳn. Thời mẹ tôi, bức tường định kiến với những “môn đăng hộ đối”, với những phận làm vợ, làm hầu, làm thiếp, bức tường ấy được xây cất và làm dày lên, làm cao lên trong hàng ngàn năm, đã che kín gia đình, không một ngọn gió lạ nào có thể thổi vào. Gia đình yên tĩnh, tịnh không mảy may xáo động. Vào thời đó, nếu họ bước ra khỏi ngõ thì ra là để vào ngay, làm gì có thời gian để nhìn trước ngó sau. Mà dẫu có ý gì thì có ai mà nhìn, toàn là bà con hàng xóm cả. Ngang tuổi thì đều đã đâu vào đó, vợ đâu chồng đó, chồng đâu vợ bên cạnh đó. Đâu đâu cũng có con mắt xét nét nhìn vào. Bé tuổi hơn, tươi rói và nhí nhảnh, thì đều là hàng con cháu cả. Còn nếu là người dung, thì ngọn roi dư luận kia kìa… Mà ai đó có gan chịu đòn, làm liều, thì khi vào cuộc, nỗi sợ nhỡ ra cũng sẽ làm hỏng hết mọi chuyện. Thời tôi như một con tỉnh giấc gần sáng. Ai ngủ lại cứ ngủ lại, ai dậy thì đã đến lúc dậy. Thời con tôi, thời của lớp thanh niên đang độ tuổi yêu đương hiện nay, như buổi bình minh của thời đại mới. Họ sống trong hoàn cảnh mới với những điều kiện sống chưa hề có. Ranh giới câu chuyện của họ có thể sang tận bên Nga, bên Mỹ, chứ đâu phải quẩn quanh trong làng. Ràng buộc họ đâu phải đôi tay quàng qua cổ, ôm ngang eo, trong tiếng nhạc xập xình nhịp bốn nhip ba. Ràng buộc họ đâu phải ba tầng bảy lớ áo đơn áo kép với quần thắt dây lưng buộc chặt. Ngay cả khi, như anh chàng đa tình Xuân Diệu nói trong bài Xa cách.
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài
Những canh tay! Hãy quấn riết đôi vai
Đã gần đến thế mà có phải là rồi đâu, còn có thể “Gần hơn nữa! Thế vẫn còn xa lắm!”. Vâng, giữa hai cơ thể gần nhau sát lại ất vẫn còn một khoảng xa cách về tâm hồn, về ý thức, về cá tính, về những đặc điểm riêng tư… Trong xã hội cổ truyền, cho đến thời mẹ tôi, các cá nhân vẫn còn hao hao nhau, như Mác nói, như những củ khoai tây, thì củ này có thể làm gương, làm chuẩn mực cho củ kia, thì một công luận ấy đủ sức ngăn đe cả xã hội. Nhưng các cá nhân hiện đại, thuộc thế hệ trẻ hiện nay, thì khác nhau ghê gớm lắm. Còn chưa đủ thì giờ xác lập được một công luận của riêng mình, họ còn phải chịu những trận đòn “chiến thuật”. Họ còn có thể thua nhiều trận đánh, thậm chí thua liền cả trăm trận, để đến trận 101 họ sẽ thắng và toàn thắng. Trong cuộc chiến, tất nhiên, cả hai bên có khi quá đà, quá tay, chẳng sao!. Nhưng kết cục của trận đánh bao giờ cũng do sức mạnh quyết định. Kẻ chiến thắng sẽ có luật lệ của mình, có những chuẩn mực riêng để phán xét từng hành vi cá nhân.
Hồ Ngọc Đại – Trí Thức Trẻ – số 11 – tháng 5 – 1996.