Monthly Archives: October 2015

Xe buýt chạy điện một giải pháp mới làm sạch môi trường

Trên thế gới Luychxămburs là thành phố đầu tiên xe buýt vào mạng giao thông công cộng. Xe buýt điện cho 2 công ty lớn vùng Scadinavơ là “Skania” và “Deffi locomotive” chế tạo. Tính ra giá thành của nó cho hơn loại xe buýt thông thường khoảng 15% nhưng giá phục vụ lại rẻ hơn rất nhiều. So với khoản tiền để xây dựng hệ thống xe điện công cộng thì tiền đầu tư cho xe buýt điện thấp hơn những 30 lần. Hiện tại chính quyền thành phố đưa ra 3 chiếc xe buýt chạy bằng ắc quy để phục vụ hành khách. Ngân khố của thành phố phải chi khoảng 1,3 triệu đô la tiền mua xe, tiền xây dựng các trạm nạp điện và đào tạo nhân viên phục vụ. Các nhà sản xuất do biết xe buýt điện có thể sử dụng hạ tầng cơ sở của loại xe chạy xăng thông thường hiện nay mà không cần thiết phải cải tạo. Nét đặc biệt ở loại xe buýt chạy bằng điện này là ở chỗ nó có 4 chế độ nạp điện khác nhau nên rất tiện lợi mà không lo bị cạn ắc quy giữa đường, thông thường sau ca làm việc xe buýt được đưa về trạm và người ta nạp điện cho nó suốt đêm đến sáng là đủ. Ngoài cách này ắc quy còn được nạp lúc xe dừng bánh đón trả khách. Lúc này nhiệt lượng thừa được chuyển hóa thành điện năng và quy ngược trả về ắc quy. Để đảm bảo cho điện tích trong ắc quy luôn ổn định người ta sử dụng một loại động cơ đốt trong có công suất là 40 kw. Do làm việc ở chế độ cố định mà động cơ rất nhỏ nên chất thải độc hại của máy nổ xả vào không khí không đáng kể. Động cơ làm việc ở chế độ tự động hoàn toàn phụ thuộc vào điện dung tích trong bộ ắc quy. Tại các bến các chuyên gia cũng có những máy nạp điện cực nhanh. Chỉ trong vòng 12 phút là có thể nạp được 40 dung lượng của ắc quy. Các chuyên gia cho biết các giải pháp kỹ thuật trên giúp cho hành khách không phải lo bị đứng giữa đường khi ắc quy cạn. Xe buýt điện có thể làm việc y như là động cơ Diezel hiện nay là giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường.
Đ. T – Trí Thức Trẻ – số 10 – tháng 4 – 1996.

Nghĩa địa treo

Một trong những chiếc quan tài ở nghĩa địa treo xã Đắc Long huyện Đắc Lây – Tỉnh Kom Tum.
Tây nguyên, cuối mùa khô, xe chúng tôi xuyên qua những khu rừng bạt ngàn trên con đường đầy bụi đỏ tiến về hướng đồn biên phòng 637. Tới địa phận xã Bắc Long, huyện Đắc Lây, tỉnh Kon Tum, giữa cái không khí thoáng đãng của cao nguyên, bỗng khứu giác của chúng tôi cảm nhận thấy có mùi gì khác lạ, khó chịu… dường như là mùi của một con thú rừng bị chết đang trong thời kỳ thối rữa. Một vài người trên xe đã bắt đầu khịt mũi, hắt hơi. Thấy thế, anh cán bộ đi cùng cái ngại thông báo: “… Cái mùi đó… là vì chúng ta sắp đi qua khu rừng có nghĩa địa treo!”. Chẳng còn ai dám tin vào tai mình nữa, quả thật đây là đầu tiên trong đời chúng tôi mới được nghe thấy cụm tù “nghĩa địa treo!”. Vốn cũng đã vài lần lên công tác Tây Nguyên, tôi biết đồng bào các dân tộc ở vùng này thường có tập quán làm nhà mồ cho người thân khi từ giã cõi đời ở nghĩa địa, nhưng xác chết nhất thiết phải được cho vào quan tài và đào sâu chôn chặt dưới lòng đất, còn đằng này nghĩa địa treo”? Chúng tôi rì rầm trao đổi và không thể hình dung ra thế nào, chẳng lẽ quan tài lại được treo lủng lẳng trên những thân cây to trong rừng? Một người đề nghị anh cán bộ địa phương cho biết sự thật thế nào? Vốn ít lời, anh lặng lẽ đáp: “Sắp tới rồi đó, nghĩa địa treo ở cách đường một quãng ngắn, nếu muốn, các anh có thể nhìn tận mắt”. Không ai nói một câu nào nữa, một không khí tặng bao trùm lên xe. Tâm trạng của chúng tôi lúc này là nửa tò mò muốn biết cái “nghĩa địa treo” hình thù ra sao, nửa ngần ngại vài cái mùi khó chịu đó mỗi lúc một đậm đặc hơn… Sau cùng, dưới sự hướng dẫn của anh cán bộ địa phương, xe ô tô tắt máy, chúng tôi mang theo máy quay phim, máy ảnh theo một lối mòn nhỏ tiến về khu rừng có nghĩa địa treo. Lúc này khoảng 3 giờ chiều, ánh nắng vẫn còn đang chói chang, chiếu chênh chếch vào khu nghĩa địa. Từ xa, tôi đã nhìn thấy một quan tài được đặt trên những cái cột gỗ, phía trên có mái che, tôi đưa máy ảnh lên bấm một kiểu. Khi tiến lại gần, tôi bấm một kiểu cận cảnh. Về hình thù và kích thước chiếc quan tài này được đống theo hình chữ nhật, nấp đậy đóng mô phỏng như hình mái nhà, dài rộng hơn những chiếc quan tài ta thường thấy ở vùng xuôi. Về chủng loại gỗ, chắc chắn phải là thứ gỗ tốt, bởi tôi thấy có nhiều cỗ quan tài đã ngã sang màu đồng hun bởi mưa, nắng khắc nghiệt nhưng xem chừng chất lượng quan tài do lâu năm đã bắt đầu mục ruỗng, tôi để ý nhìn thấy nền đất rừng, theo lối chảy của rãnh nước mưa có những đốt xương chân, tay trắng ngà nằm rải rác. Với những chiếc quan tài còn tương đối mới, tôi thấy có nồi, xoong, quần áo, màn, thậm chí cả xe đạp đặt ở bên cạnh… giải thích cho sự ngạc nhiên của chúng tôi, anh cán bộ địa phương nói: “Theo tập tục của đồng bào ở đây, đó là phần gia sản được chia cho người chết”. Còn cái mùi nằng nặng, khó chịu tôi hiểu là nó lan ra từ những chiếc quan tài có vẻ còn mới… Khi tất cả đoàn rời nghĩa địa treo lên xe tiếp tục cuộc hành trình, qua lời kể của anh cán bộ địa phương, chúng tôi hiểu thêm rằng: Nghĩa địa treo là một tập tục lâu đời của người Giẽ Chiêng, một dân tộc có số lượng người không nhiều lắm ở Tây nguyên. Đời sống của đồng bào còn có nhiều khó khăn, thiếu thốn, dịch bệnh như sốt rét, bướu cổ, tả, lỵ… Cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng 637 đã tích cực giúp đỡ đồng bào tất cả những thứ gì mà các anh có thể làm được, nhất là công tác y tế… Bác sĩ Trần Thanh Hồng và y sĩ Nguyễn Văn Huy đã khám và chữa trị hàng trăm ca bệnh hiểm nghèo, được đồng bào coi như người ruột thịt. Thế sao các anh biên phòng không phối hợp với địa phương vận động đồng bào bỏ các tục an táng người chết theo kiểu nghĩa địa treo này đi, để thế mất vệ sinh lắm một người hỏi như vậy. Anh cán bộ địa phương hơi cúi đầu đáp với giọng có nhiều day dứt lắm: Các anh ở đồn 673 với cán bộ địa phương chúng tôi cũng đã tốn không ít công sức vào cái vấn đề nghĩa địa treo này rồi đấy. Biết là mất vệ sinh lắm, có khi nhiều thứ dịch bệnh bắt nguồn từ đây… Nhưng cũng cần phải có thời gian, bởi đồng bào chưa thông, nhưng chúng tôi sẽ quyết tâm.
Nguyễn Bá Cổn – Trí Thức Trẻ – số 10 – tháng 4 – 1996.

Lao thảm họa không chỉ của dân nghèo – Phần 3

Trong gần 14 triệu người nhiễm HIV năm 1994 trên thế giới, có khoảng 5,6 triệu đã nhiễm lao. Ở nước ta, 40 bệnh nhân mang HIV tại Khánh Hòa, có tới 20 người đã mắc lao. Bệnh lao và nhiễm HIV đã hình thành một liên minh nguy hiểm chết người, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Khi người bị nhiễm cả BK và HIV, bệnh lao rất dễ dàng trở thành tiến triển do hệ thống miễn dịch bị suy yếu. Càng xuất hiện nhiều nguồn lây lao chính có nghĩa càng nhiều người mang vi khuẩn đổ bệnh sang người khác. Đã có HIV càng dễ bị BK xâm nhập và ngược lại. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ người nhiễm HIV trong số nạn nhân lao là 5,9%. Theo dự báo của WHO đến cuối kỷ nguyên này, hàng năm thế giới sẽ có thêm ít nhất là 1,4 triệu người mắc bệnh lao bị nhiễm HIV. Bệnh lao đã và đang là thủ phạm gây tử vong hàng đầu trong số những người nhiễm HIV, khoảng 1/3 số người chết trên cả hành tinh và 40% người chết ở châu Phi.
Mỗi năm một huyện?
Nếu không có các biện pháp phòng ngừa tích cực, số nạn nhân mắc bệnh lao ở nước ta hàng năm sẽ duy trì ở mức tương đương dân số một huyện lớn (năm 1995 là 130 ngàn người!). Không tính tổn thất vật chất, mà bản thân người trong cuộc phải gánh chịu, tác động tiêu cực đối với xã hội của đội quân bệnh nhân khổng lồ như thế lớn đến chừng nào? Trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh lao bùng nổ tràn lan, Giáo sư Nguyễn Việt Cồ, giáo sư Đỗ Đức Hiển và các cộng sự trong tổ công tác của chương trình chống lao quốc gia đặc biệt quan tâm đến hai yếu tố: Trình độ dân trí thấp, bộ phận đáng kể có khó khăn về đời sống kinh tế và tình trạng thiếu hoặc mạng lưới y tế địa phương chất lượng chuyên môn chưa đạt yêu cầu. Kết quả điều tra mới nhất thực hiện ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Yên Bái, Hà Tây cho thấy: tỷ lệ người mắc lao cao gấp 5 thậm chí 10 lần so với các thành phố lớn. Đến ngày cả hai vật cản trên chưa bị loại bỏ, sẽ không có hy vọng tiến bộ trong cục diện trận chiến chống lao. Thực tế, vì trình độ dân trí thấp, Việ Lao và bệnh phổi Trung ương tiếp nhận không ít bệnh nhân mắc bệnh bởi đã sống thời gian dài với ba nguồn gây bệnh. Vì chất lượng chuyên môn kém, không hiếm trường hợp người bệnh rơi vào tình trạng trầm trọng bởi lẽ chỉ được điều trị với lượng thuốc bằng 1/3 liều lượng cần thiết, tại một bệnh viện. Do điều trị không đúng, ngay tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Tây, tỷ lệ bệnh nhân chứa các chủng trực khuẩn lao kháng thuốc đã lên tới 36%. Dẫu bệnh lao nguy hiểm như vậy, song theo Giáo sư bác sĩ Nguyễn Việt Cổ, nếu phát hiện kịp thời, điều trị đúng liều, đủ thời gian, khả năng khỏi bệnh vẫn có thể hoàn toàn nằm trong tầm tay. Hiện nay, ở nước ta, tùy tùng từng địa phương tỷ lệ lành bệnh phổ biến là từ 67 đến 88%. Thế nên, hãy cảnh giác và chống lao tích cực nhất.
N.B – Trí Thức Trẻ – số 10 – tháng 4 – 1996.

Lao thảm họa không chỉ của dân nghèo – Phần 2

Năm 1995, lao đã giết chết ngót 3 triệu nhân mạng (tức là 10 ngàn lần lớn hơn so với nạn nhân đại dịch Ebola cùng các bệnh khác gộp lại). Cũng thời gian, hơn 8 triệu người bị mắc bệnh lao mới. Chính vì lao nguy hiểm như thế, từ năm nay, Tổ chức Y tế thế giới đã quyết định lấy ngày 24 tháng 3 làm “ngày toàn thế giới chống lao.
Không biên giới
Chuyện xảy ra ngay tại quốc gia có nền văn minh công nghiệp và y học loại nhất thế giới, nước Mỹ. Năm 1995, khi điều tra tại một quán bar ở Minneapolis đoàn chuyên gia của WHO đã phát hiện ra 45 người nhiễm lao trong số khách hàng thường xuyên đến quán. Điều kỳ lạ là cả gia đình chủ quán và không ai trong số họ là đối tượng nguồn gây bệnh (tất cả mới nhiễm trực khuẩn BK, chưa phát bệnh). Vậy thủ phạm ở đâu? Kết quả điều tra tiếp theo đã làm bùng nổ bất ngờ đến khó tin – chính trực khuẩn BK trong nước bọt bắn ra từ miệng người hàng xóm mắc lao, thảng hoặc bay trong không khí lọt vào quán bar, qua các ô cửa sổ, đã dẫn đến thảm họa trên. Chuyện thật khó tin. Song chắc chắn bạn sẽ phải chấp nhận, khi được biết sự thật, còn khó tin gấp nhiều lần. Cũng tại chây Mỹ, một bưu tá ở Tampa bị mắc lao trong khi anh ta ở xa nguồn lây bệnh người láng giềng quán bar trên hàng ngàn cây số, còn tại địa phương, cả gia đình và tất thẩy bạn bè đồng nghiệp đều khỏe mạnh. Lúc khám nghiệm những đồ vật, mà banh bưu tá tiếp xúc hàng ngày, người ta đã tình cờ phát hiện ra rằng, thủ phạm chính là những… lá thư! Một người nào đó bị lao, do vô tình, đã khạc những trực khuẩn BK vào bì thư. Và lũ BK đã xâm nhập vào cơ thể anh bưu tá xấu số (qua đôi tay anh hoặc bay thẳng qua mồm, qua đường hô hấp?). Đề cập đến hai trường hợp nhiễm lao tưởng như lạ lùng đó, Giáo sư – bác sĩ Nguyễn Việt Cồ nói: Về cơ chế lây truyền bệnh lao, chỉ những đối tượng thực sự mắc lao mới có thể làm lây cho người khác. Bệnh không lây truyền qua côn trùng, tiếp máu hoặc qua nguồn nước. Giống như bệnh nhiễm lạnh thông thường và khác AIDS, bệnh lao lan truyền qua không khí do tiếp xúc gần gũi. Khi một người bị bệnh ho, hắt hơi, nói to, khạc nhổ vi khuẩn lao sẽ lơ lửng trong không khí hàng giờ, người không may có thể hít phải. Theo kết quả các công trình nghiên cứu, nếu không được điều trị trung bình một người mắc bệnh lao tiến triển có thể đổ bệnh cho 10 đến 15 người khác, trong thời gian 12 tháng. Ngoài phổi, trực khuẩn lao còn có thể đóng quân và tàn phá các khớp xương, màng não, thận và… ruột. Không biết khái niệm biên giới, lao có thể đổ bộ xuống bất cứ nơi nào trên trái đất. Tất cả chúng ta đều phải đối mặt với nguy cơ lâm bệnh.
Đồng minh của AIDS.
Một trong những nguyên nhân chính khiến lao trở thành dịch bệnh chưa bao giờ trầm trọng như hiện nay (theo đánh giá của WHO) là sự lan truyền quá nhanh của virút gây suy giảm miễn dịch người – HIV, tác nhân gây AIDS.
N.B – Trí Thức Trẻ – số 10 – tháng 4 – 1996.

Lao thảm họa không chỉ của dân nghèo – Phần 1

Bác sĩ Ngoạn, chuyên gia hàng đầu về bệnh phong (hủi, cùi) ở Viện Lào và các bệnh về phổi, kể hai tháng trước tôi đã phải chứng kiến cái chết dường như rất phi lý của anh bạn. Chết không phải vì AIDS, ung thư… hay tai nạn đột tử. Không phải vì nghèo, thiếu tiền thuốc thang. Càng không phải vì trí thức thấp kém, bởi anh là kỹ sư, gia đình có tới ba bác sĩ. Trước đó khá lâu, có lần anh gọi điện cho tôi bảo rằng: “Ngoạn ơi, không hiểu sao, dạo này mình gầy rộc kém ăn, hay sốt về chiều, đêm ngủ cứ vã mồ hôi?”. Tôi hỏi: “Cậu có bị ho không?”. Đáp: “Có. Ho khạc đã vài ba tuần.
ghi chép: Ngọc báu
Nhiều lúc ngực đau nhói. Nhất là mỗi khi hít thở sâu”. “Có lẽ cậu bị lao rồi”. “Thế Ngoạn kê đơn, mình tự mua thuốc, điều trị”. Tôi đáp: “Nếu cậu bị bệnh phong, tớ có thể giúp cậu. Còn lao không phải chuyên môn của tớ. Tốt nhất, cậu nên đến ngay bệnh viện”. Bạn tôi miễn cưỡng, ậm ừ. Cúp máy. Bẵng đi thời gian dài. Nghe tin bạn chết vì lao, tôi bàng hoàng, choáng váng… Đã hơn 114 năm kể từ ngày nhà bác học Robert Koch phát hiện ra trực khuẩn gây bệnh lao (ngày 23 tháng 3 năm 1882, viết tắt là BK), rất nhiều thuốc chống lao hiệu quả đã ra đời, nhưng tại sao lại xảy ra cái chết dường như rất phi lý như trên? Tôi mang câu hỏi đến với giáo sư, bác sĩ Nguyễn Việt Cổ, chủ nhiệm chương trình chống lao quốc gia. Nhà khoa học với kinh nghiệm trên ba thập kỷ chiến đấu với bệnh lao, chậm rãi giải thích. Đó chính là một trong những đặc điểm khác thường, mới xuất hiện của đại dịch. Một khi điều trị không đúng, nó còn nguy hiểm hơn cả không chữa chạy gì. Vì sao vậy? Bởi do sự xuất hiện các chủng kháng nhiều thuốc của vi khuẩn lao trong những năm gần đây. Hiện tượng này xảy ra vì bệnh nhân dùng thuốc chống lao không đúng (hoặc theo công thức thiếu hoàn chỉnh, hoặc điều trị không hợp lý. Một khi bệnh lao phát triển ở những đối tượng như thế, bệnh sẽ rất khó chữa và hậu quả phổ biến là tử vong. Anh kỹ sư nọ thiệt mạng chắc hẳn vì sự thừa khả năng chạy thuốc, nhưng lại thiếu kiến thức cần thiết về cơ chế điều trị lao. Chủ quan, ỷ vào người nhà là bác sĩ nhưng không phải chuyên khoa, điều trị không đúng, nên kết cục đau đớn như thế. Vậy mới có chuyện tưởng như nghịc lý: Dẫu nhân loại gần như đã đặt một chân vào thế kỷ 21, nền văn minh, khoa học kỹ thuật và sự giàu có vật chất của thế giới đã cao hơn nhiều lần, thuở ông Koch tìm ra thủ phạm bệnh lao, Tổ chức y tế thế giới (WHO) phải ra khuyến cáo “Bệnh lao là vấn đề khẩn cấp toàn cầu”!. Trong các bệnh nhiễm trùng, lao là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Tính trung bình, cứ mỗi giờ, theo số liệu mới nhất của WHO, hành tinh chúng ta lại xuất hiện thêm 3.600 người bị nhiễm BK. Hiện nay, khoảng 1/3 dân số toàn cầu là 1,7 tỷ người, đang là nạn nhân của con bệnh. Trong thập kỷ tới, nếu không có những biện pháp ngăn chặn hữu hiệu, ước độ 300 triệu người nữa sẽ bị nhiễm lao, 90 triệu sẽ bị chết vì nó.
N.B – Trí Thức Trẻ – số 10 – tháng 4 – 1996.

Say mê sáng tạo – Phần 2

Với công suất là 1 nghìn đến 2 nghìn lít một giờ, thiết bị có giá thành là 18 triệu đồng trong khi giá của nước ngoài từ 140 đến 700 triệu đồng. Những kết quả trên là công lao chung của tất cả Trung tâm ALFA nhưng vai trò của người điều hành, chủ trì cũng rất quan trọng. Tổ chức cho một số cơ sở gồm có 31 người điều có trình độ đại học trở lên trong đó có hai phó tiến sĩ làm việc nhịp nhàng, có hiệu quả đòi hỏi không chỉ năng lực quản lý mà cả uy tín về trình độ chuyên môn, kiến thức vững vàng. Ngô Thượng Mãn đã có được điều đó. Có lẽ do là con út của một gia đình, mọi người đều học hành đỗ đạt cao, nên Ngô Thượng Mãn thừa hưởng được cách nói năng, cư xử nhẹ nhàng dễ mến. Tuy nhiên niềm say mê sáng tạo kỹ thuật và kinh doanh thì chỉ riêng anh có, thậm chí lúc đầu khi anh định lập công ty ALFA thì cả nhà đều căn ngăn, sợ anh thất bại. Bản thân anh cũng xác định rằng việc nghiên cứu tìm tòi giải pháp kỹ thuật và chế tạo thiết bị mới không dễ dàng thành công, nhất là đối với một người trẻ tuổi, tiềm lực kinh tế có hạn. Nhưng nỗi bức xúc về việc có những công việc không vượt quá tầm khả năng của người Việt Nam, nhưng ít người chịu đi sâu nghiên cứu, để rồi phải nhập thiết bị của nước ngoài với giá rất đắt, ý thức không chịu chạy theo đuôi người khác đã thôi thúc anh, và các đồng sự vào cuộc. Chuyện làm ăn thời kinh tế thị trường đòi hỏi phải giữ bí mật ngay cả những dự định, nhưng Ngô Thượng Mãn cho biết các anh đang quan tâm đến việc xử lý nước thải, một vấn đề ngày càng trở nên bức thiết. Là ủy viên ban chấp hành doanh nghiệp trẻ thành phố Hồ Chí Minh, hội viên câu lạc bộ sáng tạo kỹ thuật của Trung tâm sáng tạo trẻ thuộc thành đoàn Thanh niên cộng sản thành phố, Ngô Thượng Mãn rất nhiệt tình với việc giúp đỡ, đào tạo lớp cán bộ kỹ thuật trẻ. Hàng năm, thông qua Trung tâm sáng tạo trẻ, trung tâm ALFA đều nhận sinh viên đại học Bách Khoa đến thực tập, tạo điều kiện cho các em tham gia công tác nghiên cứu khoa học. Hiện nay ALFA đang tài trợ cho một số sinh viên, có 2 sinh viên đang tham gia công tác tại trung tâm. Nói về lớp sinh viên hiện nay, Ngô Thượng Mãn cho rằng các bạn có những điều kiện học tập thuận lợi hơn hẳn thời anh, nhất là việc học thêm ngoại ngữ, vi tính, cùng một lúc có thể học vài ba trường. Tuy nhiên đáng tiếc là xu hướng thực dụng trong sinh viên vẫn còn khá nhiều phổ biến, phần đông thích học khối kinh tế – tài chính và ngoại ngữ, số theo học các ngành kỹ thuật cũng ít tập trung vào chuyên môn. Lời nhắn nhủ của anh muốn gửi gắm tới các bạn trẻ: Sử dụng thành thạo máy vi tính và ngoại ngữ là cần thiết, nhưng đó chỉ là những phương tiện phụ trợ cho công việc chuyên môn, điều quan trọng cơ bản là phải có kiến thức chuyên môn vững vàng và lòng say mê nghề nghiệp. Tuổi trẻ cần phải có lòng say mê sáng tạo, không nên chỉ mơ ước kiếm được nhiều tiền.
Nguyễn Đình Quân -Trí Thức Trẻ – số 10 – tháng 4 – 1996.

Say mê sáng tạo – Phần 1

Năm nay mới bước sang tuổi 33 nhưng Ngô Thượng Mãn đã được khá nhiều người trong nam ngoài bắc biết đến. Người ta biết Ngô Thượng Mãn không chỉ vì anh là nhà doanh nghiệp, giám đốc một thành viên của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam là Trung tâm công nghệ mới Alfa, mà trước hết vì anh là một nhà sáng tạo kỹ thuật trẻ, một chuyên gia về xử lý nước và môi trường chế biến thực phẩm.
Tốt nghiệp khoa Hóa thực phẩm trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh năm 1986, Ngô Thượng Mãn về làm việc tại một xí nghiệp cơ khí của quận Gò Vấp. Trong thời gian đó, mặc dù có một sáng kiến, sáng tạo mà tiêu biểu là Máy ép viên liên tục năm 1990, dùng trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm và dây chuyền sản xuất Protein từ cá (đề tài được báo cáo tại Hội nghị khoa học kỹ thuật toàn quốc năm 1990), Ngô Thượng Mãn không tự mãn, bằng lòng với kiến thức của mình. Anh tìm cách để được đi du học tự túc tại Pháp trong hai năm (1990 đến 1992). Chính trong thời gian đó, các vấn đề về kỹ thuật xử lý nước và môi trường đã thu hút sự chú ý của anh. Thế là bên cạnh việc học thêm về công nghệ thực phẩm, Ngô Thượng Mãn đồng thời làm quen với kỹ thuật xử lý nước. Về nước, anh cùng bạn bè gom góp vốn thành lập công ty cổ phần công nghệ mới ALFA và được bầu làm chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc (sau này công ty đổi tên thành Trung tâm công nghệ ALFA). Phương hướng hoạt động của Trung tâm là nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật mới về chế tạo thiết bị chế biến thực phẩm và xử lý nước dùng cho sinh hoạt, nước thải… Sau ba năm hoạt động, Trung tâm ALFA đã nghiên cứu triển khai được khá nhiều đề tài và đã đạt được một số kết quả khả quan. Đó là hệ thống sản xuất nước ngọt trong gia đình dự thi mẫu mã mặt hàng mới của thành phố Hồ Chí Minh năm 1993, là máy lọc nước dùng màng siêu lọc được sử dụng trong một số bệnh viện, trường học, là vật liệu cách âm – cách nhiệt ALFA – 93 được giải sáng tạo của thành phố Hồ Chí Minh năm 1993. Năm 1994, Trung tâm ALFA lại tiếp tục được nhận giải này do việc thiết kế cải tiến dây chuyền sản xuất cháo ăn liền cho trung tâm dinh dưỡng trẻ em thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Tây… Riêng hệ thống lọc nước và diệt khuẩn ALFA đã được hơn 50 trường học ở thành phố và các tỉnh miền Tây, Tây Nguyên lắp đặt theo phương thức trả chậm trong 3 tháng. Hệ thống này có công suất là 250 lít một giờ và giá thành 7 triệu đồng so với giá 16 triệu đồng một hệ thống công suất tương đương của Nhật. Cũng nên kể thêm đề tài “Khử phèn sắt và các kim loại cứng trong nước bằng phương pháp hấp thụ” tham gia chương trình Nước sạch nông thôn năm 1994. Đặc biệt, công trình chế tạo thiết bị diệt khuẩn nước bằng Ojon của trung tâm ALFA đã được tặng giải 3 hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật năm 1994 – 1995.
Nguyễn Đình Quân -Trí Thức Trẻ – số 10 – tháng 4 – 1996.

Thế giới tình cảm của Động vật

Nhà sinh thái học động vật Ganth Tmbroke của trường đại học Humbondt Berlin – Đức đang thực hiện chương trình nghiên cứu sự tham lam và tâm lý ganh ghét của động vật là một đề tài nghiên cứu rất phức tạp và đặc biệt lý thú. Từ xưa tới nay đã từng có nhiều bài báo và cuốn sách khoa học đăng tải, đề cập tới, đời sống tình cảm của giới động vật đáng chú ý. Ví như trong tác phẩm nhan đề “Khi chú voi chảy nước mắt” của 2 đồng tác giả người Mỹ Geoffery Masson và Susan Mc Carthy đã dành ra nhiều trang miêu tả về nội dung này. Theo 2 ông thì tình cảm giận dữ và sợ hãi của động vật là điều hết sức tự nhiên. Sư tử gầmg thét và chó hung dữ là thế nhưng lắm khi cũng phải cụp đuôi len lén “chuồn là thượng sách”. Trong vương quốc của động vật cũng có tính ganh ghét và tình yêu thương. Những người có kinh nghiệm nuôi mèo lâu lắm đều biết rằng, nếu một con mèo nào đó được chủ vuốt ve chiều chuộng thường xuyên thì rất dễ bị những con mèo khác ít được ngó tới ghen ghét tấn công. Dayan Foce, một nhà nghiên cứu viên người Mỹ đã 18 năm liền làm tại Trại quan sát nghiên cứu loài đại tinh tinh (Gorilla) Rwanda (Châu Phi) kết quả nghiên cứu của bà cho thấy, giữa đại tinh tinh với nhau cũng có tình thân ái hết sức thiêng liêng. Ví như bà đã dầy công quan sát một tinh tinh con muốn tìm thấy tình yêu thương của cha nó, nó thường ngồi đấy, chăm chú nhìn thẳng vào mặt cha nó với ánh mắt triều mến, kính phục. Khi bắt gặp cái nhìn bao dung, chở che của cha nó, nó súng sướng đến phát run lên. Trong tác phẩm Hươu cao cổ của 2 nhà văn Mỹ Annie Dager và Bristol Foster đã kể lại khá tỷ mỉ một trường hợp ngoạn mục: một đàn 6 con hươu cao cổ đang nhởn nhơ gặm cỏ, vặt lá, bỗng có một con sư tử hung dữ xong tới. Cả đàn hươu cao cổ sợ hãi chạy tan tác mỗi con một hướng nhưng một hươu choai chậm chân không chạy kịp hươu mẹ. Trước tình thế nguy cấp ấy, vì mạng sống của hươu con, hươu mẹ đã lập tức quay trở lại, mặc dù đã nhiều lần sư tử tấn công cả hươu cao cổ trưởng thành, nhưng con hươu mẹ này tỏ ra không một chút sợ hãi, nó đã xông thẳng tới, lấy thân mình che chở cho hươu con là liều mạng dùng 2 chân trước đánh trả con sư tử đói một cách quyết liệt. Trận chiến dằng co kéo dài suốt 1 tiếng đồng hồ, tuy hươu mẹ đã bị thương nhưng cuối cùng sư tử đành bỏ miếng mồi ngon đã kề tận mõm và hậm hực bỏ đi. Tình thương yêu của động vật không chỉ tồn tại giữa bố mẹ và con cái, mà còn biểu hiện giữa giống đực và giống cái vì sự phát triển, duy trì nòi giống. Ví dụ thiên nga, một loài chim nước, giữa con trống và con mái thường có những cử chỉ âu yếm, vuốt ve, còn loài chim vẹt da hổ sống theo chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng và đó là những đôi bạn tình trong thế giới động vật đáng để loài người khâm phục. Thế giới tình cảm của động vật có vú biểu hiện rõ ràng, minh bạch và phong phú hơn nhiều so với côn trùng và động vật còn đang trong giai đoạn tiến hóa thấp là loài cá. Ví dụ voi khi biểu thị sự tình cờ gặp nhau, chúng biểu diễn tình cảm thân thiện bằng cách chạy gần đến với nhau. Khi giáp mặt 2 con cùng ngẩng đầu, giơ vòi ra quán lấy nhau, đồng thời chân dậm dậm liên tục theo nhịp đung đưa của toàn thân và rít lên như reo mừng. Đó là biểu hiện sự vui sướng khi đồng loại, bạn bè gặp nhau. Động vật cũng có nhiều biểu hiện buồn bã và đau khổ. Nhà khoa học Mỹ chuyên nghiên cứu về sinh thái động vật Conrand Loretz, bằng kết quả nghiên cứu loài vịt trời lông xám có 1 còn chẳng may bị chết thì gây nên cú sốc tình cảm đối với con còn lại, nó ủ rủ đau buồn đến không thiết sống nữa. Tóm lại, loài động vật chúng cũng có tình cảm mừng vui và buồn đau như con người, tuy chúng không thể hiện diễn đạt được bằng ngôn ngữ.
Tường Hạnh – Trí Thức Trẻ – số 15 – tháng 9 – 1996.

Có một nơi thật quái dị

Tại một dải đất ven sông Saten phía ngoài thung lũng Grant bang Origon – Mỹ đã và đang xảy ra một hiện tượng quái dị tới mức rất nhiều nhà khoa học cũng không thể giải thích nổi. Trong một khoảnh đất hình tròn với đường kính khoảng 50 mét được gọi là “vòng xoáy Origon” có một ngôi nhà cổ bằng gỗ, ngôi nhà luôn ngả về một phía như tháp nghiêng Bida nước Ý. Khi bạn đánh bạo bước chân vào trong nhà sẽ bỗng có cảm giác như đang bị một lực hút rất hơn kéo rịt xuống mặt đất, giống như lực hấp dẫn của trái đất đột ngột tăng vọt lên nhiều lần, nếu bạn sợ hãi lùi lại về phía sau, bạn sẽ bị một lực như có người thộp ngực áo kéo giật vào trong nhà. Khi tạt ngang qua vòng xoáy Origon ngựa sẽ co vó chạy theo bản năng và nếu phim vô phước bay ngang trên không phận nơi này sẽ bị hút tụt xuống, còn các thân cây lớn nhỏ mọc gần đấy đều ngả về phía Bắc cực. Rất nhiều nhà khoa học Mỹ và thế giới đã đổ về đây tiến hành nghiên cứu một thời gian dài với hy vọng khám phá ra sự bí mật của vòng xoáy Origon. Một trong những thí nghiệm là họ dùng dây cáp treo một quả tạ thép nặng 13 kg lên xà ngôi nhà gỗ cổ ấy. Kỳ lạ thay, quả tạ không buông thõng thẳng đứng theo định luật trọng lực, mà luôn bị hút chéo một góc về đúng tâm điểm vòng xoay, nếu muốn đẩy quả tạ ra xa tâm điểm vòng xoáy ấy, bạn phải dùng một lực cơ bắp khá lớn. Đúng hút thuốc lá trong ngôi nhà này, nếu bạn nhả ra bụng khói sẽ thấy các sợ khói xoay theo một đường xoáy trôn ốc rất rộng cho tới khi tan biến, và khi đặt nằm chiếc vỏ chai thủy tinh rỗng lên một tấm ván dụng nghiệp, chiếc vỏ chai không lăn xuống theo lẽ thường tình mà từ từ lăn ngược lên như có một bàn tay tàng hình đang tác động vào vậy. Vậy tại sao quả tạ thép bị hút vào một điểm tâm nhất định và chiếc vỏ chai tự động lăn ngược lên đỉnh dốc, cho tới nay vẫn chưa có một nhà khoa học nào giải thích nổi.
Bùi Hữu Cường-Trí Thức Trẻ – số 15 – tháng 9 – 1996.

Bóng Đèn Hanogien

Hỏi: gần đây chúng tôi thấy loại bóng đèn rất sáng có tên là Hanogien dùng cho các phóng viên truyền hình quay phim, vậy nó là loại đèn gì?
Trả lời: Các loại đèn điện thông thường tim đèn được cấu tạo bằng kim loại khó nóng chảy là Tungsten (còn gọi là Vonfram) nóng chảy ở nhiệt độ là 3.400 độ C. Tuy thế khi dòng điện chạy qua trong một thời gian dài nhất là môi trường nhiệt độ cao đèn vẫn tự giảm độ sáng có khi muội đèn bám kín. Đó là vì bề mặt tim đèn đã phóng thích các phân tử này bám vào phía bên trong của vỏ thủy tinh làm bóng đèn giảm độ sáng. Vì thế khi chế tạo người ta phải tạo khoảng không gian lớn quanh tim bóng đèn để chống hiện tượng bốc hơi làm mờ bóng. Nhưng lại dẫn đến hậu quả là đèn không thể đạt được nhiệt độ nên giảm khả năng phát sáng. Đèn “hanogien” mà bạn nói đến đã khắc phục được hiện tượng đó: Nó tạo được nhiệt độ thật cao để tăng khả năng phát sáng. Nó khắc phục được hiện tượng bốc hơi trong dây tim bóng đèn nhờ trong bóng đèn được nạp I ốt. Cơ chế làm việc của bóng đèn loại này như sau: Trước hết bóng đèn nhỏ gọn giảm không gian bên trong bóng như vậy đèn sẽ tăng khả năng giữ nhiệt để phát sáng cao. Bóng đèn được chế tạo từ thạch anh nhiệt độ bên trong đèn duy trì từ 250 độ C trở lên. Ở nhiệt độ từ 200 độ C đến 1.200 độ C, I ốt hòa hợp với Tungsten bốc ra từ dây tim thành I ốt dua Tungsten. Tính chất của I ốt dua tungsten không ổn định nên khi vừa tiếp xúc với dây tim ở nhiệt độ cao từ 1.400 độ C trở lên) liền bị phân thành I ốt và Tungsten. Tungsten bám trở lại dây tim, còn I ốt thì bay ra hòa hợp với Tungsten khác đang bị bốc hơi ra rồi lại tạo ra I ốt dưa Tungsten để đưa về dây tim… chu trình này diễn ra không ngừng bên trong bóng đèn. Do đó Tungsten không bám được bóng đèn , nên không xảy ra hiện tượng bị đen bóng. Tóm lại do tạo được nhiệt độ cao và chống được hiện tượng bốc hơi tungsten nên bóng đèn loại này có khả năng phát sáng lớn. Một bóng đèn là 1 nghìn W của loại này tương đương với bóng đèn thường là 5 nghìn W và cường độ phát sáng trong suốt thời gian sử dụng không thay đổi.
Đặng Hồng Quang -Trí Thức Trẻ – số 15 – tháng 9 – 1996.