Monthly Archives: June 2014

Ao làng (p2)

Những nhà cẩn thận đã đưa nước giếng khoan đến Viện Khoa học Việt Nam xét nghiệm, kết quả cho thấy nước ở vùng này xử lý không đúng kỹ thuật thì không dùng để ăn uống được. Có lẽ thế nên xưa kia ở Đa Sỹ không hề có giếng khơi. Vào những năm 1975-1985 vì các giếng đất bị ô nhiễm, rất nhiều gia đình phải đào giếng khơi nhưng rồi cũng bỏ dần vì có giếng thì nước thơm nước trong, có giếng thì nước vàng nước tanh hôi, đã thể nhiều giếng dù đào sâu mươi mét cũng không có nước quanh năm. Vì thế giếng khơi ở Đa Sỹ đã không là nguồn nước truyền thống của làng nên bây giờ còn rất ít. Từ tháng 6 năm 2008, làng bắt đầu có nguồn nước sạch do thành phố Hà Đông dẫn về, dân gian quen gọi là nước máy.

Continue reading

Ao làng

Đa Sỹ xưa có hơn 50 cái ao lớn nhỏ rải khắp các xóm. Ao lớn nhất, đẹp nhất là ao Ngoẹ ở xóm cống Xi của nhà cụ Chánh Duật. Nó to đẹp nhất bởi chẳng những về diện tích rộng 5 sào có dư mà còn bởi nó được tạo dựng lên từ đời cụ Huvện người họ Trịnh (ở cuối thế kỷ 18) là cụ Tổ của nhà cụ Duật nhằm tạo một cảnh quan sơn thuỷ hữu tình cho nhà thờ và vườn thờ Cụ. Xung quanh ao được bó vỉa, phía nhà thớ được xây tường hoa. Trẻ con trong làng suốt ngày bơi lội tấm rửa ùm ùm trong ao nước rộng và sạch sẽ này. Các ao khác cũng đều từ mười thước đến vài ba bốn sào. Chúng được thông với nhau bằng hệ thống cống rãnh nhằm trước nhất là để thoát nước cho làng, sau thì của gia đình nào thì gia đình ấy thả rau muống để người ăn, thả bèo để nuôi lợn và cho xóm ngõ tắm rửa giặt rũ. Vì vậy trong làng rất hiếm có trường hợp ao tù nước đọng. Các ao phần lớn không nuôi thả cá. mà chỉ có cá mạt. Riêng ao Đình được làng nuôi thả cá để lấy cá chia cho các giáp làm cỗ, làm gỏi cúng Thiên Quan cầu an vào sáng ngày Ram tháng Hai Âm lịch hàng năm.

Continue reading

Các gò mộ tại ngôi làng cổ

Đa Sỹ là vùng đất cổ, nơi đây tiếp giáp với Hữu Hoà, Văn Nội đã được khảo sát một số di chỉ gò mộ cho thấy thuộc đời Đông Hán. Vậy Đa Sỳ với 72 gò mộ lớn nhỏ cao thẩp khác nhau từ xa xưa vẫn còn đó, cũng là dấu tích của một vùng quận huyện thuở bấy giờ (GS. Trần Quốc Vượng nói tại Hội nghị tổng kết khảo sát di tích lịch sử vãn hoá danh nhân làng Đa Sỹ tháng 6 năm 1986). Trong số các gò mộ trên thì to nhất, cao nhất là hai Đống Trê (Đổng Trê trên và Đống Trê dưới) tổng diện tích 1 mẫu 2 sào 10 thước, có hình dáng như hai con rùa đang vờn hòn ngọc. Hòn ngọc cũng là một đống nhỏ nằm xa xa chừng 300-400m ở giữa khoảng cách hai Đống Trê, mới bị san bằng do sử dụng máy cày trên đồng ruộng (vào khoảng những năm 1980). Tiếp đến là Đống Dấm rộng 4 sào là đất di tích lịch sử của Họ Hoàng Ba Chi, rồi đến các đống Đường Trạch rộng 2 sào, cao như cái đẳng; Các đổng Bán Bánh, Đồng Quýt, Đổng Mã Yên rộng hơn 1 sào; Các đổng Đường Gạo, Bồ Đa,., nhỏ hơn. Ở trong làng có hơn 50 gò đống, những nhà ở gần xâm chiếm dần, cuối cùng dân làng tổ chức bán rẻ cho những nhà ấy lấy tiền làm đường bê tông phù lên đường gạch cũ của làng. Nhiều gò đổng rất thiêng như gò Tràng Can dài 72 ngũ, chỗ rộng nhất 2 ngũ, chồ hẹp nhất 1 ngũ 2 xích 5 thốn chạy dài từ nhà cụ Hai Bách, cụ Cả Mùi, cụ Ba Kình đến nhà ông Cả Ty. Khu Vườn học cũng có 3 gò nay chỉ còn dẻo đất nhỏ ở sân nhà ông Lợi Vinh. Cả làng bây giờ chỉ còn lại hai cái lăng mà người xưa xây tại gò đấy để cả xóm thờ cúng gọi là thờ Sơn Thần của xóm.

Continue reading

Làng cổ Việt Nam

Gối lên bờ Tây của Sông Nhuệ, cách trung tâm kinh đô Thăng Long và Quốc Tử Giám chừng 10.000m về phía Tây, những ngôi làng cổ như làng Hoa, làng Sẽ, làng Thượng hợp cư lại với làng Huyền Khê rồi đổi thành Đan Sỹ và sang giữa thế kỷ 18 đã đổi tên thành làng Đa Sỹ.

Continue reading