Monthly Archives: June 2014

Xây dựng đình cổ

Làng đã chọn khu đất ở đầu làng gần với chùa Lâm Dương Quán và Miếu thờ Lương y Dược Linh Thông cư sỹ Hoàng Đôn Hoà để làm Đình mới thay cho Đình cũ. Về vấn đề này chúng tôi đã bỏ công ra nghiên cứu và nhận thấy trong số 4 câu đầu của toà đại Đình có ghi chữ Hán như sau:

Continue reading

Sự tích Đình cũ

Làng Đa Sỹ cũng như nhiều làng quê Việt Nam khác rất chú trọng đến ngôi Đình. Có lẽ từ thuở làng còn mang tên Huyền Khê, Đan Sỹ, các cụ đã xây dựng một ngôi Đình ở giữa khu dân cư (xóm Bắc bây giờ), mà những người dân Đa Sỹ từ năm 1960 về trước ai cũng biết ngôi Đinh đó, nhân dân gọi là Đình cũ để phân biệt với ngôi Đình hiện nay ở đầu làng. Đình cũ nằm ở: phía Đông giáp ao nhà cụ Quản nay là nhà bác Kiến Huyên, phía Nam là quán hát Trống quân và đường làng đi từ cổng Danh ra chợ Đan, phía Tây là đường ngõ vào nhà cụ Lý Nghĩa và nhà thờ họ Hoàng, phía Bắc là ao nhà cụ Tuân.

Continue reading

Cụ Hoàng Đôn Hoà và cụ Nguyễn Đăng Phi

Làng Huyền Khê xưa vốn là vùng địa linh đã sinh ra nhiều người anh kiệt. Trong số hàng chục vị anh kiệt đã có 5 vị được nhân dân nhiều nơi thờ làm Thành Hoàng làng, được phong là Thượng Đẳng Phúc Thần vì đức nghiệp các vị để lại cho dân, cho nước thật lớn lao. Thế hệ chúng ta vô cùng tự hào về quê hương đã sinh ra những người con tràn đầy lòng thương dân yêu nước đến như vậy. Continue reading

Cụ Hoàng Trình Thanh

Thần tích, Thần sắc của làng Tư vy (tên Nôm là làng Ve) tổng Chi Nê, huyện Tiên Du, Bắc Ninh lưu trữ ờ Thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội (Hà Nội) cho biết: “Người tên huý là Trình Thanh, tên chữ là Trực Khanh. Người thi đỗ khoa Hoành từ triều vua Lê Thái Tổ, có ông Nguyễn Trãi là quan đồng liêu. Người là Nhân thần. Người có công giúp nhà Lê. Đối với dân làng chúng tôi, Người là một vị đại ân sư khai hoá cho dân. Thuở ấy Người làm quan khi rỗi việc đi kinh lý các nơi để xem xét dân sự, đến sử Kinh Bắc gọi là Chi Nê nội trang, thấy dân thật thà quê mùa. Người truyền lập nhà học dạy bảo nhân dân. Nhân dân cảm động về công ơn giáo hoá của Người đã xin thờ làm Phúc Thần”. Hiện Đình thờ Người còn lưu được 8 đạo sắc phong. Các triều Lê và Nguyễn đều phong tặng Người là Quảng đạo Thái tử Quan nội hầu Trình Quy công tặng Linh quang hộ quốc Đại vương.

Continue reading

Văn chỉ của Tổng Thượng Thanh Oai

Văn chỉ hàng Tổng thì được xây phía ngoài giáp tường nằm giữa Nghi môn của Miếu và Tam quan của chùa Lâm Dương Quán. Thời gian hàng Tổng xây Văn chỉ không ai nhớ, nhưng có lẽ cũng phải vào triều Nguyễn. Đây là khu vực rất nguy nga tráng lệ. Khuôn viên của Văn chỉ hàng tổng được xây tường bao thấp chừng hơn 80cm có nghi môn rất trang trọng. Bên trong xây cất 3 lăng thờ giống như khám của long đình. Lăng chính giữa đặt tấm bia đá Ngôi vị của các đấng Tiên Hiền Tổng Thượng Thanh Oai. Trong bia khắc tên 15 vị Tiên hiền của các làng trong tổng: Continue reading

Giai thoại làng Đan Sỹ

Thuở ấy, vào đầu thế kỷ 16. khi Đức Ông Hoàng Đôn Hoà – người con của quê hương nổi danh với những bài thuốc lấy từ cây cỏ ở xung quanh sao tẩm làm thuốc chữa bệnh hiệu nghiệm, cứu sống được nhiều người nhất là vào những năm niên hiệu Nguvên Hoà (1533-1548). ông được dân chúng khắp vùng từ già đến trẻ tôn xưng Ông là vị Phúc tinh và, làng Huyền Khê đã được chúng dân xa gần biết đến và kéo đến lấy thuốc chữa bệnh rất đông. Tài danh của ông vang đến triều đình, rồi Ông được triệu vào Kinh chữa bệnh cho con gái vua. Sau khi chữa khỏi bệnh cho con gái vua. Ông được nhà vua cho người con gái ấy nên vợ nên chồng. Nhà vua cũng muốn giữ ông ờ lại triều đình làm việc tại Viện Thái y. Hai con người, một lương y đức độ, một thục nữ dịu hiền tràn đầy lòng nhân hậu yêu thương chúng dân, đôi vợ chồng ý hợp tâm đồng đã nhất định xin dược trở về quê hương, nơi thôn dã để tiếp tục làm thuốc cứu dân cứu đời chứ không ở lại trong Kinh hưởng vinh hoa phú quý.

Continue reading

Làng Hoa, làng Sẽ và làng Huyền Khê

Làng Hoa và làng Sẽ

Các cụ kể rằng từ xưa lắm rồi làng Huyền Khê vốn là ở xóm đầu làng kéo đến giữa làng bây giờ. Vì làng nằm bên con suối (Khê) có nước màu huyền nên gọi là Huyền Khê. Con suối đó là sông Nhuệ ngày nay. Cư dân ở làng Hoa và làng Sẽ dần dà kéo về cư tụ làm cho làng Huyền Khê to lên đông thêm. Vào thời kỳ rất xa xưa nữa có một con sông thông thương giữa sông Đáy và sông Nhuệ là ranh giới giữa làng Đa Sỹ với làng Nhân Trạch, Văn Nội ngày nay. Người Đa Sỹ ở làng Hoa thuở ấy đã khai phá vùng ven sông này tạo nên các xứ đồng từ Sạc Thượng (giáp với Văn La. Văn Nội) chạy dài hàng cây số về Bún về Mả Thí, Đồng Xa, Đống Trắng gần với Khê Tang bây giờ. Còn về làng Hoa thì dấu tích làng Hoa là xứ đồng Đường Hoa và quán Đường Hoa. Những chân ruộng cao quanh quán Đường Hoa mà bờ ruộng còn đắp bởi những chum, những vại. những lọ, những chình bằng sành là dấu tích tường nhà xưa đấy.
Dâu tích làng Sẽ là xứ đông chùa Sẽ. Và tất cả những ai sinh ra trước năm 1980 hẳn không thể quên hai toà nhà ngói của ngôi chùa Sẽ với bệ đá. cột đá, bia đá, với cây đa cồ thụ xum xuê. Di tích chùa Sẽ cùng di tích làng Hoa đã mất chỉ ba chục năm nay chứ mấy. Nay chỉ còn lại cái tên từ thời sơ khai ấv. Nên ngôi chùa Sẽ xưa chính là trụ sở Hợp tác xã Nông nghiệp Đa Sỹ bây giờ. Continue reading

Tổ chức bộ máy chính quyền xã trong làng cổ

Bộ máy chính quyền xã là một tập hợp người gồm chỉ có nam giới. Ở đời Gia Long năm thứ 4, các Chỉ tự của làng còn ghi lại đứng đầu xã là Xã trường. Bia đá Đan Sỹ xã bi kị- dựng năm Phúc Thái thứ 6 (1648) cho thấy đứng dầu làng xã lúc ấy là Quan viên Hương lão. Đến các đời sau thấy có:

Continue reading

Giáp và Đồng niên

Tổ chức giáp chỉ có ý nghĩa cho chính quyền làng xã nắm dân được sâu thêm, nhưng vì là một tổ chức không phải huyết thống cho nên công việc trong hàng giáp thường có xích mích không thuận như công việc trong họ tộc. Dù sao tổ chức họ tộc đã ngàn đời cần thiết cho mọi nhà, mọi người, nên người Đa Sỹ rất tự hào về dòng họ và gia tộc nhà mình. Thuở xưa những dòng họ danh giá, “danh gia vọng tộc” thường được những gia đình yếu thế xin vào họ và các họ này từ chối những yêu cầu có tính chất hàm ơn của người khác. Ví dụ ba chi của họ Hoàng là Hoàng Quý, Hoàng Chính và Trung Phú là ba giáp riêng biệt của họ Hoàng khoa danh tế thế đã từ chổi không nhận ruộng gửi hậu của Quan hầu Quan huyện. Gia đình cụ án Nguvễn Bá Xuyến (1759- 1829) thuở hàn vi đã xin vào chi Hoàng Chính và dòng Nguyễn Bá con cháu cụ đã theo mãi hết thế kỷ 20. Gần đây chỉ vì xích mích rất bình thường con cháu họ Nguyễn Bá đã bỏ không theo nữa. Đây cũng là bài học cho thấy nếu không phải huyết thống thì dù đến bao nhiều đời, bao nhiêu năm, cũng có mâm mong để xa đi.

Continue reading

Họ, Tộc và Giáp

Tổ chức theo họ, tộc là huyết thống của mình không ai dám coi nhẹ. Trong họ tộc người được tôn trọng nhất là cụ Trưởng, ông Trưởng, bác Trưởng, anh Trưởng, cháu Trưởng là người được sinh ra ở vào vị trí ấy được thắp hương thờ tổ, được thay mặt cho họ tộc trong mọi công việc về giao tiếp, điều hành, phân phối, phát ngôn. Mỗi khi trong họ tộc có sự vụ gì thì ý kiến của người Trưởng, kể cả là vợ người Trưởng được tôn trọng gần như là ý kiến quyết định. Khi những vị này qua đời cả họ đều để tang với khăn tang đồng loạt. Vi lẽ ấy chính quyền phong kiến vào đầu thế kỷ 20 đã lập ra Hội đồng tộc biển thay cho Hội đồng kỳ mục, rồi sau lại lập ra Giáp biểu nhưng kém hiệu quả phải trở lại Hội đồng kỳ mục. Giáp không phải là tổ chức huyết thống mà là tổ chức có tính chất liên kết giữa các họ tộc khác nhau ở trong làng với nhau để có thêm vây cánh, có thêm lực lượng đáp ứng các yêu cầu của thời cuộc, của công việc do làng xã giao cho. Theo Chi tự lập vào đời Bảo Đại thứ 3 (1928) thì trong làng có 11 giáp như sau:

Continue reading