Hay dở trứng gà

Trừng gà là một loại thực phẩm rẻ tiền, ăn ngon lại nhiều chất. Cứ 100 gram trứng gà có 14 gram protein, 8,6 gram chất béo. Đặc biệt, trong trứng gà còn có một số nguyên tố vi lượng rất có ích cho sự phát triển của cơ thể như selen, chrome, kẽm… Hàm lượng vitamin có trong trứng gà cũng khá cao, nhất là vitamin A. Xưa nay trong dân gian vẫn dùng trứng gà làm thức ăn bồi dưỡng, không những trong bữa ăn hàng ngày mà còn dùng để tăng cường sức khỏe cho người ốm phụ nữ có thai và người gia. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, một số nước lại có quan điểm phản đối việc thường xuyên ăn trứng gà. Họ cho rằng, trứng gà tuy chất dinh dưỡng cao nhưng lòng đỏ chứa cholesteron tương đối lớn, có khả năng gây nên một số bệnh như: xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, xơ cứng mạch máu não… Từ đó trong các tài liệu tuyên truyền phòng chống một số bệnh về cao huyết áp, bệnh mạch vành xơ cứng mạch máu não… người ta khuyên những người bệnh nêu trên và người già không nên ăn nhiều lòng đỏ trứng, coi việc ăn ít hoặc không ăn trứng gà là một trong những biện pháp quan trọng để phòng ngừa xơ vữa động mạch. Quan điểm đó đã nhanh chóng lan rộng sang các nước. Rất nhiều người đặc biệt là những người bị bệnh tim mạch và người già do sợ tác hại của lòng đỏ trứng nên đã không dám ăn hoặc ăn rất ít trứng. Những người thích ăn trứng gà cũng phải bỏ lòng đỏ mà chỉ dám ăn mỗi lòng trắng. Quả thực là hàm lượng cholesteron trong lòng đỏ trứng gà tương đối cao, nhưng có đúng là ăn vào sẽ làm cholesteron huyết tăng cao và thúc đẩy việc xơ cứng động mạch? Các cơ quan nghiên cứu y học của rất nhiều nước đã khẩn trương bắt tay vào việc điều tra, nghiên cứu vấn đề này. Chỉ sau một thời gian, các báo cáo điều tra và nghiên cứu khoa học đã lần lượt đưa ra các ý kiến, trong đó không có bản báo cáo nào chứng minh được ăn nhiều lòng đỏ trứng gà sẽ làm tăng lượng cholesteron trong huyết thanh, và càng không có căn cứ để nói rằng vì thế mà gây bất lợi cho bệnh mạch vành hoặc mạch máu não. Không ít bản báo cáo còn chỉ ra rằng sở dĩ cholesteron huyết thanh tăng cao là do một cơ chế nào đó trong cơ thể mất chức năng điều khiển gây ra đó là nguyên nhân bên trong. Còn cholesteron trong thức ăn là nguyên nhân bên ngoài, nó không có ảnh hưởng rõ rệt tới mức độ cao thấp của cholesteron bên trong. Một điều thú vị nữa là bản báo cáo điều tra của hội ung thư học nước Mỹ còn chứng minh ngược lại rằng, lòng đỏ trứng có tác đụng tốt đối với bệnh nhân xơ cứng động mạch và bệnh mạch vành. Hội nghị lần thứ VII của Hiệp hội cao huyết áp ở Nhật Bản cũng đã đưa ra một quan điểm mới cho rằng, protein trong trứng gà cũng giống như protein trong đậu tương và cá đều có tác dụng phòng ngừa nhất định đối với tai biến mạch máu não. Một số báo cáo nghiên cứu còn chỉ rõ, chất lecithin có trong lòng đỏ trứng, không những không làm tăng hàm lượng cholesteron huyết thanh, thậm chí còn có tác dụng hạ, thấp phần nào lượng cholesteron huyết thanh. Có báo cáo còn nói rằng lòng đỏ trứng chứa nhiều vitamin A, có tác dụng nhất định phòng chống ung thư. Các báo cáo nghiên cứu khoa học nói trên đã chứng minh rằng quan điểm đánh giá ăn nhiều trứng sẽ thúc đẩy quá trình xơ cứng động mạch, từ đó gây ra các tai biến mạch máu não và bệnh mạch vành là thiếu căn cứ khoa học. Chúng ta cần phải khôi phục lại danh dự cho trứng gà bấy lâu nay chịu tiếng oan. Mặt khác một số người có thói quen thích ăn trứng gà sống hoặc đồ sữa bò, sữa đậu nành đun sôi vào trứng, đánh tan để ăn. Cách ăn như vậy là không tốt. Họ cho rằng, ăn sống như thế dễ tiêu hóa, đủ chất dinh dưỡng, sự thực hoàn toàn ngược lại. Trứng sống rất khó tiêu hóa, qua kiểm tra cho thấy, cơ thể chỉ có thể hấp thụ được 50 phần trăm đến 70 phần trăm protein trong trứng gà sống. Ngoài ra trong trứng gà sống có một loại protein tên là Avitin sẽ kết hợp với một loại sinh tố có tên biotin trong thức ăn sống một vài quả thì không sao, nhưng cứ ăn trứng sống thường xuyên cơ thể sẽ thiếu biotin, da dẻ bị nhợt nhạt sinh ra khô và bong da, gây chán ăn, sút cân, rụng tóc và một số bệnh khác. Không những thế trong trứng sống đôi khi còn có vi khuẩn gây bệnh, ăn sống dễ bị nhiễm bệnh. Ăn trứng ốp lếp thường khi nào lòng đỏ còn sền sệt là vừa, trứng rán chỉ cần lòng đỏ vừa đông lại, còn người già, người ốm ăn trứng hấp là dễ hấp thụ nhất. (Theo the family docter)
Phạm Văn Trung-Trí Thức Trẻ – số 41 – tháng 11 – 1998

Một chuyện rùng rợn

Có lần tôi đã gây nên nỗi kinh hoàng trong một ngôi nhà khi dẫn tới đây một người bạn của tôi tên là Giooc-ken. Thật ra, tôi không cho mình và có lẽ tôi cũng không cho anh ta là có lỗi. Sự thể là một người bạn khác của tôi nói rằng mấy đứa con của anh ta rất thích nghe những chuyện rùng rợn. Và tôi đã kể cho chúng mấy câu chuyện hoang đường về sư tử và hổ nhưng không làm chúng sợ tín nào. Lúc ấy tôi chợt nhớ tới Giooc-ken là người đã từng sống nhiều năm trong các khu rừng Ấn Độ và Phi châu để săn bắn thú dữ và tôi tin rằng những hồi ức của chàng sẽ gây cho chúng một ấn tượng mạnh mẽ. Do đó tôi mới bảo ba đứa con của bạn tôi rằng tôi quen một người thợ săn kỳ cựu vốn biết rất nhiều chuyện và hỏi chủ nhà xem tôi có thể dẫn anh ta đến uống trà vào một dịp nào đó được không. Chính tôi cũng không thể hình dung là Giooc-ken sẽ kể một chuyện thực sự rùng rợn. Và tôi cũng không ngờ là lũ trẻ tuy không còn bé bỏng cho lắm, tuổi từ 10 đến 12, lại khiếp sợ đến thế. Tôi được phép dẫn Giooc-ken tới ngay lập tức, và bọn trẻ sau tuần trà đầu tiên đã yêu cầu chàng kể cho chúng nghe một câu chuyện rùng rợn, còn Giooc-ken thì chẳng bắt chúng phải van nài đến lần thứ hai. Bây giờ tất cả tội vạ được đổ lên đầu tôi. Tôi không hiểu tại sao. Tôi chỉ thực hiện nguyện vọng của chúng thôi mà. Tất nhiên cần lưu ý một điều là trước đây chúng chưa bao giờ nhìn thấy Giooc-ken cả và chỉ biết chàng qua lời miêu tả của tôi, mà bọn trẻ đôi khi có thể rất là cả tin. Còn bây giờ hãy cho phép tôi được trình bày câu chuyện của Giooc-ken. Chàng kể nó, ngồi trong chiếc ghế bành thoải mái, trong khi đó thì lúc trẻ hai đứa con trai mười và mười một tuổi, và một cô bé mười hai tuổi thì đứng trước chàng khao khát uống từng lời một. Chàng kể chuyện về con hổ. Tôi chờ đợi được nghe đại loại những gì mà chàng thường kể cho người lớn, nhưng Giooc-ken đã thay đổi cốt chuyện một cách đáng kể, có lẽ cho phù hợp với lứa tuổi người nghe. Có thể nói là chàng đã đi quá xa. Con hổ nhìn thấy chú Giooc-ken lên tiếng và thong thả đi theo sau, dường như nó không muốn chạy trong cái tiết trời nóng bức như thế này và có lẽ nó biết rằng chú cũng không chạy. Mong rằng câu chuyện này là một bài học cho các cháu trong tương lai. Khi lớn lên, đừng bao giờ lại gần những khu rừng Ấn Độ mà không mang theo súng, thậm chí nếu các cháu muốn dạo chơi một chút như chú đã từng làm trong cái buổi sáng rủi ro ấy. Bởi vì giữa đường chú gặp một con hổ. Nó lừng lững đi đằng sau chú, còn chú thì muốn tránh xa, nhưng hổ đi nhanh hơn chú một chút xíu. Tất nhiên chú hiểu rằng cứ mỗi một trăm ác-dơ nó chỉ nhích lại phía chú có năm, sáu phút, nhưng khoảng cách giữa hổ và chú, ngày càng thu hẹp. Và chú hiểu rằng cũng không nên chạy. Tại sao thế? Lũ trẻ đồng thanh hỏi. Bởi vì hổ có thể nghĩ rằng một cuộc chơi mới đã bắt đầu và nó sẽ tham gia vào đó. Chừng nào chú đi thì cứ một trăm ác-tơ nó tằng thêm được năm, sáu phút, còn nếu như chú chạy thì nó sẽ tranh thủ được những năm mươi phút. Và chú quyết định nên đi mặc dầu chú biết rằng cái kết cục sẽ như nhau và chú chỉ kéo dài cái điều không thể tránh khỏi mà thôi. Khốn nỗi là chú và con hổ không phải ở trong rừng mà ở giữa các mô đá, ở đó chả có cây cối nào mọc lên. Mà chú thì càng ngày càng đi xa khỏi khu rừng. Tại sao thế? Bởi vì con hổ đã xuất hiện giữa chú và rặng cây. Hổ thường ra khỏi rừng vào ban đêm và đến rạng sáng, khi lũ gà trống thức dậy và cất tiếng gáy thì quay trở lại. Tất cả những điều đó cũng xảy ra vào buổi sáng, nhưng mặt trời đã lên khá cao và chú cho rằng tất cả những con hổ đã ở trong rừng từ đời tám hoáng rồi. Bởi vậy chú mới đi dạo chơi mà không mang theo súng và té ra thật là tai hại. Thế tại sao chú lại đi chơi? Cô bé hỏi. Các cháu đừng bao giờ hỏi một người nào đó rằng tại sao anh ta lại làm điều này hay điều khác để chuốc lấy tai họa. Nguyên cớ bao giờ cũng chỉ có một, mặc dầu hiếm người thú nhận chuyện đó. Nó được gọi là sự ngu ngốc. Thế trong trường hợp của chú nó dẫn tới tai họa à? Cô bé tò mò hỏi. Rồi các cháu sẽ được nghe kể hết – Giooc-ken thản nhiên tiếp tục. Như chú đã kể cho các cháu là chú và con hổ đang ở trên các mô đá. Con hổ mỗi lúc mỗi tiến gần lại. Và lúc ấy chú nhìn thấy một cái hang nằm giữa hai quả núi, ở gần ngay đỉnh quả núi nhỏ. Lẽ cố nhiên chui vào trong hang có nghĩa là cắt đứt con đường rút lui của mình. Nhưng việc tiếp tục rút lui không thể dẫn tới một điều gì tốt đẹp cả, còn cái hang thì tạo ra một cơ may thoát thân. Nó có thể trở nên hẹp hơn, và hổ ta không thể chui lọt vào nơi chỉ đủ chỗ cho con người. Hoặc lòng hang trở nên rộng hơn và có nhiều ngóc ngách nên chú có thể dọa nạt làm cho hổ sợ. Còn chút hy vọng cuối cùng, chú bèn trèo lên núi và chui tọt vào hang. Con hổ bám theo sát gót chú. Chú đã vượt được một khoảng cách nhất định trước khi ánh sáng bị che khuất thân con hổ đã lấp kín lối vào hang. Lòng hang quả thật hẹp dần lại, và chẳng mấy chốc chú phải bò lổm ngổm bằng tứ chi. Còn con hổ thì cứ nhẩn nha như trước. Nhìn kỹ thì lòng hang cũng khá rộng, đủ chỗ cho cả con hổ lẫn chú. Lúc ấy chú sực nhớ tới bài báo ngắn nó về hai bộ xương của con chuột và con mèo được tìm thấy trong khi người ta xây dựng lại một thánh đường lớn.
Lê Sơn- Trí Thức Trẻ – số 40 – tháng 10 – 1998.

Đại thập tự giả có ảnh hưởng đến khí hậu và con người hay không? – Phần 4

Tai biến xuất hiện trước rồi sau đó sẽ có chứng nghiệm ngay…” nhận xét trên hình đồ, năm Dần nằm trong vùng cung lạnh của sao Mộc, khí âm thái quá – âm thịnh nên có thể xem như Trái đất bị tẩu hỏa (dương) nhập ma (âm) mà sinh biến động. Chúng ta hãy chờ xem trận mưa sao kỳ thú rơi xuống vùng nào vào năm tới để kiểm chứng xem chiêm tinh học cổ xưa có còn hiệu nghiệm nữa hay không.
Tháng 6 năm Mậu Dần (năm 1998): thảm họa khủng khiếp ở lưu vực sông Dương Tử. Đúng tròn 720 năm tức vừa tròn 60 chu kỳ của sao Mộc (1278 – 1998), cũng tháng 6 năm Mậu Dần cũng tại vùng đất kinh đô xưa của nhà Nam Tống, thảm họa khủng khiếp đã xảy ra với một hình thái khác, và do sự dại đột của con người đã lấp đi 2 phần 3 hồ Động Đình (tức Thái hồ của nước Ngô xưa) vừa tàn phá rừng cây… khiến cho sức tàn phá của thiên tai càng thêm dữ dội hơn. Nhân đây, cần phải nói đến thảm họa vỡ đê lớn nhất lịch sử Trung Quốc xảy ra vào mùa hè năm 1975 (ngày 27 tháng 6 Ất Mão) làm hơn 8,5 vạn người chét đuối do vỡ đập nước tai họa khủng khiếp này phải 23 năm sau (1998) mới được ghi vào sách sử Trung Quốc. Nhân họa trợ lực cho thiên tai ở đây không còn là sự dại đột nữa: Người ta đã xây dựng một “Thái hồ” bằng bê tông ác – mê trên độ cao 55 mét so với vùng dân cư, có dung lượng tới 500 triệu mét khối nước và tin tưởng rằng cái đập vỏ thép ấy từ nay sẽ chế ngự được thiên nhiên. Thế nhưng, một trận mưa bão như thác đổ đã vượt quá sức chứa của “đập vỏ thép” (tới 700 triệu mét khối) làm cho nó phải vỡ tung đã giải phóng hơn 600 triệu mét khối nước từ trên độ cao 55 mét đổ xuống với lưu tốc là 79 nghìn mét khối trong một giây đã nhấn chìm bao làng mạc thị trấn trong khoảng khắc. Đúng là người ta đã tự tạo ra một quả bom nước khổng lồ để tự hủy diệt mình! Để rút ra bài học hữu ích qua ba sự kiện lịch sử về thiên tai nêu trên (có sự trùng lặp ở ba điểm cùng xảy ra ở lưu vực sông Trường Giang, cùng là những thiên tai dẫn đến thủy nạn khủng khiếp, cùng là xoay quanh những năm Dần chúng ta cần hiểu biết thêm về quy luật tác động của các chu kỳ sao Mộc: Căn cứ vào âm lịch ta sẽ nhận ra rằng các chuy kỳ 12 năm của Sao Mộc luôn có độ dài không bằng nhau: chu kỳ có 5 năm nhuận sẽ dài hơn chu kỳ chỉ có 4 năm nhuận thường thì hai chu kỳ kế nhau sẽ có 9 năm nhuận. Mặt khác, chu kỳ sao Mộc được tính tròn 12 năm là đã bỏ qua số lẻ. Vạy vị trí thực tế của sao Mộc trong vòng cung lạnh sẽ có sự du di so với năm Dần chuẩn theo tính toán của các chiêm tinh gia thí dụ như cơn bão số 5 – Linda đến vào cuối năm Đinh Sửu vừa qua cũng đã sát trước năm Dần. Năm đầu của chu kỳ sao Mộc tức năm Dần nếu là năm có nhuận tất sẽ là chu kỳ dài nhất báo hiệu sẽ có nhiều biến động hơn các chu kỳ ngắn. Đặc biệt nếu nhuận rơi vào mùa hè thì biến động càng lớn và sẽ đặc biệt lớn khi nhuận lại rơi vào tháng trọng tâm của mùa hè tháng 5 báo trước những trận thiên tai khủng khiếp. (Năm giáp Dần 1974 có nhuận tháng 4, tiếp đó là thảm họ vỡ đập nước nêu trên xảy ra vào mùa hè năm Ất Mão còn nhuận tháng 5 năm nay thì tai họa ập đến tức thì ngay sau đó không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở các nơi khác như Papua Niu Ghi – nê, Băng la đét… Các nhà khoa học dường như chỉ chú ý đến El Nino và La Nina đến hiệu ứng nhà kính.. đã mặc nhiên xem nhẹ quy luật khắc nghiệt bất khả kháng của thiên nhiên mà xét ra hoàn toàn có thể nhận biết được. Nếu mùa hè càng nóng thì nước ở các đại dương, sông hồ… càng bốc hơi nhanh tất sẽ dẫn tới hạn hán nặng, nước bốc hơi nhiều sẽ tụ lại thành mây tiềm chứa một kho nước khổng lồ sẽ theo gió bão trút nước vào đại lục khiến cho những vùng thấp, trũng phải gánh chịu lũ lụt nặng nề nhất. Vậy nên, từ nạn đến lụt là một chu trình khép kín của thiên nhiên con người không thể chống chọi mà chỉ có thể phòng tránh. (Chu Nguyên Chương nhà Minh am tường phong thủy, biết Nam Kinh là vùng đất thấp nên đã sáng suốt dời đô lên Bắc Kinh). Thiên văn học vũ trụ nếu chỉ nghiên cứu riêng rẽ từng hành tinh đơn lẻ mà không xét đến mối quan hệ tập thể giữa chúng khi tản mát trong vũ trụ, khi tiến gần lại nhau sự thể sẽ tạo ra sao thì rất khó dự đoán được điều gì chính xác. Mô hình đại thập tự giá cho thấy Trái đất luôn bị ép giữa hai thái cực âm cực ly tâm mạnh gây ra bởi sao Mộc và Mặt trăng, Dương lực hướng tâm mạnh gây ra bởi sao Kim, sao Thủy và Mặt trời dùng công thức của ĐLVVHD có thể lượng định được giá trị. Những dự đoán về thiên tai (Tri Thức Trẻ số 37) là dựa vào những phân tích trình bày trên đây và dường như nó đã được chứng nghiệm tại những vùng có thiên tai. (Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp).
Hà Vi Tử- Trí Thức Trẻ – số 40 – tháng 10 – 1998.

Đại thập tự giả có ảnh hưởng đến khí hậu và con người hay không? – Phần 3

Mặt trăng đến vị trí Thượng huyền xem như mới là điểm bắt đầu của tuần trăng, còn Sao Mộc thì đã tới điểm mút chót của vòng cung lạnh tiến gần về phía mặt trời hơn, nghĩa là cả hai sao đều nằm trên thanh ngang của đại thập tự giá suy ra: Hợp lực tạo sinh âm lực ly tâm trong lòng đất của Mặt trăng và sao Mộc sẽ rất yếu, biểu hiện ở lực dẫn triều tất sẽ không mạnh đó là cái may cho những vùng có thiên tai như động đất, lũ lụt… vì cường độ được giảm thấp đi nhiều. Tuy nhiên, khi tác động âm giảm xuống thì tác động dương lại tăng lên đúng luật m – Dương tiêu trưởng, bởi lẻ sao Mộc đã gần Mặt trời và hợp với mặt trăng, Trái đất thành một tam giác và trong lòng tam giác ấy đã có sự hiện diện của sao Kim, sao Thủy nằm trên thanh dọc của đại thập tự giá. Để hình dung được tầm mức của tác động dương trong bối cảnh của quá trình “ m tiêu Dương trưởng” đó, chúng ta luôn phải vận dụng một định luật cơ bản về vạn vật hấp dẫn sau đây: lực hút giữa hai hành tinh sẽ tỷ lệ thuận với khối lượng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng, thí dụ sức hút của mặt trời đối với sao Mộc tại vị trí M9 sẽ gấp khoảng 4 lần hơn tại vị trí M12 tương quan sao Mộc sẽ nóng nhất ở M9 và lạnh nhất ở M12 y như Mặt trăng nóng nhất ở ngày Sóc và lạnh nhất ở ngày Vọng vậy. Cuộc chiến tranh giữa các vì sao hay nói đúng hơn là sự đụng độ giữa các hành tinh nặng ký nhất trong thái dương hệ diễn ra trong phạm vi không gian hẹp của vùng tam giác nói trên rất gần với lò lửa Mặt trời có độ nóng tới 5 nghìn độ C đến 6 nghìn độ C sẽ gây nên những biến động lớn lao có tác hại đến sự sống trên hành tinh của chúng ta như thế nào? Trước hết, ta hãy thử làm một con tính đơn giản theo công thức của ĐLVVHD nêu trên sẽ thấy ngay rằng các hành tinh hấp dẫn nhau bằng những lực hút vô cùng mãnh liệt là nguyên nhân dẫn tới trên bề mặt phân cách giữa các trường từ thuật ngữ vật lý thiên văn gọi là các mặt sóng đập luôn chịu những áp lực rất mạnh và biến thiên dao động với biên độ sống cực lớn, đó là điều tất yếu phát sinh những trận bão từ lớn một số nhà thiên văn hàng đầu thế giới đã dự đoán đại thập thế giới sẽ gây ra bão từ là hoàn toàn thấu lý. Đồng thời với bão từ là một vùng không khí rộng lớn vì bị đốt nóng lên đến cực độ bởi các tia mặt trời sẽ khiến cho hàng chục tấn bụi vũ trụ là những mảnh vụ của sao Chổi, thiên thạch… phát sáng lấp lánh như ánh sao và là do tác động của các bức xạ vũ trụ với cường độ rất mạnh đã đổ hàng chục tấn bụi đó xuống hành tinh của chúng ta. Theo tính toán của các nhà khoa học thì những hạt bụi đó có kích thước khá lớn tới vài cm và rơi với tốc độ lớn tới 100 nghìn km một giờ có thể làm hại đến bề mặt Trái đất còn đối với sự sống thì điều mà con người cần quan tâm đến là những tác động về sinh thái học. Hẳn chúng ta sẽ có dịp được chiêm ngưỡng cảnh mưa sao ngoạn mục và hiếm có này vào một ngày đầu thu sang năm. Để vén mở tấm màn bí ẩn dày đặc bao quanh sao Mộc đã khiến các nhà thiên văn phương Tây đau đầu và hiện vẫn còn đang loay hoay với các giả thuyết, để hiểu rõ vì sao từ hàng nghìn năm về trước, các chiêm tinh gia và thuật số gia phương Đông luôn bám sát Mộc tinh, vận dụng lý thuyết Kinh dịch (lý khí) vào nghiên cứu và đã xác định được chính xác quy luật tác động mạnh nhất của sao Mộc xoay quanh những năm Dần trong các chu kỳ 12 năm, đồng thời gán cho sao Mộc tên gọi mang ý nghĩa biểu tượng hơn sao Thái tuế – Thái có nghĩa là to lớn, mạnh mẽ… chúng ta hãy lật lại những trang sử ký xưa và nay ghi chép về những thảm họa khủng khiếp nhất gây ra bởi thiên nhiên xoay quanh những năm Dần năm luôn có hình bóng của “Đệ ngũ đại tinh” Thái tuế (tức gã khổng lồ Jupiter của người phương Tây) Tháng 6 năm Mậu Dần – 1278, mưa sao băng – thảm họa khủng khiếp – nhà Nam Tống mất ngôi
Sách Đại Việt sử ký Bản kỷ quyển V tờ 39b chép rằng: “Tháng 6 năm mậu Dần (Bảo Phù năm thứ 6 năm 1278) có ngôi sao lớn sa về phương Nam rơi xuống biển, hơn nghìn ngôi sao nhỏ rơi theo, tiếng kêu như sấm đến vài khắc mới hết (1 khắc bằng 15 phút – HVT). Tháng giêng năm Kỷ Mão năm 1279 người Nguyên đánh úp quân Tống ở Nhai Sơn thuộc tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Quân Tống thua, tả thừa tướng Lục Tú Phụ cõng vua Tống nhảy xuống biển chết. Hậu cung và các quan chết theo rất nhiều. Qua 7 ngày có đến 10 vạn xác chết nổi lên mặt biển, xác vua Tống cũng ở trong đó. Thế là ứng với điềm sao sa xuống biển. Năm ấy nhà Tống mất ngôi. Thông hiểu văn trời lý đất, sử thần Ngô Sĩ Liên bàn rằng: “Trong khoảng trời đất chỉ có hai khí âm – dương nếu khí âm thịnh mà phạm bừa vào khí dương thì trời đất tất xuất hiện ta biến.
Hà Vi Tử- Trí Thức Trẻ – số 40 – tháng 10 – 1998

Đại thập tự giả có ảnh hưởng đến khí hậu và con người hay không? – phần 2

Vậy nên ông Phạm Viết Trinh viết rằng: “Chúng ta đều biết chiêm tinh học khai sinh ở phương tây” là sự ngộ nhận bởi không hề biết đến chiêm tinh học phương Đông, thậm chí không hề biết đến Trạng Trình, nhà chiêm tinh kiệt xuất của Việt Nam ta ở đầu thế kỷ 16. Còn ông cho rằng các hành tinh đều là những Trái đất không có điện từ trường nên không có tương tác điện từ giữa chúng, thì những dẫn dụ từ sách giáo khoa trên đây cũng đủ rõ đúng sao. Nhân năm cả hai ác tinh sao Kim – Kim Mộc cùng tới tham gia vào đội hình Đại thập tự giá riêng đối với Mộc tinh thì năm Dần còn là năm đắc địa nữa, ắt sẽ có thời điểm chúng ở vị trí đối nhau qua tâm địa cầu khiến hành tinh của chúng ta lâm vào tình thế lưỡng đầu thọ địch nên chẳng thể xem thường. Để có khái niệm và nhận biết rõ hơn về quy luật tác động của sao Mộc, chúng ta hãy thử dõi theo từng vị trí tương đối độ số của ngôi sao này trong một chu kỳ 12 năm trên hình đồ giản ước, đồng thời chứng kiến bằng các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử và mới gần đây. Phân tích trên hình vẽ: quỹ đạo của sao Mộc nếu chiếu lên bán cầu Bắc của địa cầu sẽ đi theo hướng từ Đông – Bắc đến Tây – Nam (nếu ở Nam bán cầu sẽ có hướng ngược lại). Vậy đường đi của sao Mộc luôn chéo góc với Hoàng đạo nên mặt phẳng quỹ đạo của sao Mộc luôn cắt mặt phẳng quỹ đạo của Trái đất một góc nhỏ hơn góc vuông và sẽ có hai vị trí là tiếp điểm cắt M6 và M12. Quỹ đạo của sao Mộc là một hình ê – líp nên tại vị trí M9 bị sao chổi Shocmaker – Levy bắn phá vuông góc với mặt trời sẽ có khoảng cách gần nhất đối với Mặt trời bởi chính là bán trục ngắn của ê – líp, khi sao mộc chuyển động đến vị tí tiếp điểm cắt M12 sẽ có khoảng cách với mặt trời là xa nhất bởi là bán trục dài của ê – líp. Từ vị trí M9 nếu hạ đường thẳng góc xuống mặt phẳng quỹ đạo của trái đất thì đó sẽ là khoảng cách xa nhất của sao Mộc đối với mặt phẳng quỹ đạo của trái đất, còn khi sao mộc tới vị trí tiếp điểm cắt M12 thì khoảng cách giữa sao Mộc và mặt phẳng quỹ đạo của trái đất tất thị phải bằng 0. Để xác định được chính xác sao Mộc sẽ có tác động mạnh nhất vào những năm nào trong một chu kỳ 12 năm của nó thì trước hết ta cần nhận biết một quy luật sao Mộc chuyển động càng ra xa Mặt trời bao nhiêu thì nó lại càng gần mặt phẳng quỹ đạo Trái đất bấy nhiêu, và ngược lại. Sự tương quan thuận nghịch của hai yếu tố xa và gần nói trên sẽ là nhân tố chính để xét đoán những tác động của sao Mộc khi nó chuyển động trong vòng cung M10 – M12 – M2. Xét về vị trí và tính chất thì vòng cung này không khác gì mấy vòng cung (Thượng huyền – thượng vọng – Hạ huyền) của bán chu kỳ Mặt trăng (Tri Thức Trẻ số 37/98). Như ta đã biết, Mặt trăng khi ở xa Mặt trời nhất là vị trí ngày Vọng (ngày trăng sáng nhất) thì độ lạnh của nó là cao nhất sẽ có tác động làm lạnh (âm hóa) bầu khí quyển ở phía tối của địa cầu, tạo sinh âm lực ly tâm mạnh nhất trong lòng đất thường được gọi là sức hút của mặt trăng khiếp lớp vỏ trái đất nở ra bằng máy đo siêu chính xác đã đo được biên độ giãn nở lên tới gần nửa mét và dễ thấy hơn bằng mắt thường là nhịp độ thủy triều ở ngoài đại dương. Vậy nên khi sao Mộc đến vị trí M12 ta thấy nó cũng giống như khi Mặt trăng đến vị trí ngày Vọng nên sẽ có độ lạnh cao nhất, đồng thời với sự chuyển động chậm chạt của sao Mộc nên tác động làm lạnh – âm hóa Trái đất sẽ xảy ra liên tục trong một thời gian rất dài (chiêm tinh lọc gọi quá trình này là trái đất chịu xạ ảnh của sao Mộc). Một điều dễ nhận biết là các tuần trăng ở mỗi tháng luôn nằm trong vòng cùng lạnh (M10 – M12 – M2) của Mộc tinh nên m lực ly tâm phát sinh trong lòng đất sẽ mạnh lên hơn bởi có sự cộng lực của cả hai sao, và nếu như Mặt trăng đến vị trí ngày Vọng cùng thời gian với sao Mộc đến vị trí M12 thì sự hợp lực đó sẽ cho giá trị cực đại như động đất, lũ lụt… xảy ra vào thời điểm này ắt sẽ rất là khủng khiếp. Khi đã có khái niệm về hai vùng cung lạnh nếu lồng vào nhau thì lớp vỏ địa cầu sẽ phải chịu một sức hút tăng cường và sẽ rất mạnh ở vùng đỉnh của vòng cung, chúng ta có thể vận dụng của vòng cung, chúng ta có thể vận dụng để phân tích tầm lượng ảnh hưởng của hiện tượng mặt phẳng quỹ đạo xảy ra vào ngày mồng 8 tháng 7 năm kỷ Mão:
Hà Vi Tử- Trí Thức Trẻ – số 40 – tháng 10 – 1998

Đại thập tự giả có ảnh hưởng đến khí hậu và con người hay không? – Phần1

Sau khi Tri thức trẻ số 37 đăng bài viết của tác giả Hà Vi Tử về hiện tượng thiên văn trên, bên cạnh dư luận đồng tình với đánh giá về tác động đối với khí hậu trái đất, đời sống con người… của những hiện tượng thiên văn như Nhật thực, nguyệt thực, đại thập tự giá, tòa soạn cũng nhận được không ít ý kiến hoài nghi, thậm chí bác bỏ hoàn toàn lập luận của thế giới Hà Vi Tử điển hình là viết bài trên Tri thức trẻ số 39 của ông Phạm Viết Trinh, chủ tịch Hội Thiên văn vũ trụ Việt Nam. Trong số này Tri Thức Trẻ xin giới thiệu ý kiến trao đổi với ông Phạm Viết Trinh của hai tác giả Hà Vi Tử và Tất Hùng.
Nguồn gốc chiêm tinh học, hành tinh có điện từ trường?
Từ thời thượng cổ (trước công lịch), thiên văn học phương Đông đã xác lập nên hệ Thái Dương gồm 8 hành tinh lớn chuyển động xung quanh Mặt trời nhằm mục đích nghiên cứu quy luật vận hành của các hành tinh sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến sự sống trên Trái đất. Có thể nói rằng trong nền văn minh phương Đông, chiêm tinh học cổ Trung Hoa sớm đạt tới vị trí đỉnh cao thế giới là nhờ sớm phát hiện và khám phá ra những bí ẩn cùng quy luật là Kim tinh, và Mộc tinh (sao Mộc là hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời được người Trung Hoa tìm thấy từ thời Hán sơ). Các nhà thiên văn thời đó dường như đã nhận thấy tầm mức ảnh hưởng to lớn của hai ngôi sao này nên các ống kính thiên văn hầu như đều hướng tới sao Kim và sao Mộc người phương Tây phát hiện ra sao Mộc muộn hơn và đặt cho nó tên gọi là Jupiter. Neeusd đặt ra sự phân tích so sánh về mục tiêu và kết quả nghiên cứu cùng giá trị hiệu dụng đối với đời sống thực tế của con người đạt được trong lĩnh vực thiên văn học cổ kim Đông Tây, chúng ta sẽ thấy có nhiều điều phải suy xét để tự rút ra những kết luận hữu ích. Năm 1989, trong cuốn sách giáo khoa về “Từ trường Trái đất của giáo sư Thanh Giang đã viết: khoảng 30 năm về trước, các nhà thiên văn học đều coi sao Hảo là hành tinh chứa nhiều bí ẩn nhất trong gia đình mặt trời. Ngày nay tấm màn bí ẩn dày đặc lại bao quanh sao Mộc chứ không phải là sao Hỏa nữa… sở dĩ các nhà thiên văn phương Tây bỏ rơi sao Hỏa, chuyển hướng nghiên cứu tới sao Mộc là bởi đã xác định được trên hành tinh khổng lồ này lớn hơn khoảng 2,5 lần tổng khối lựng của các hành tinh trong hệ cộng lại có từ trường rất mạnh và được miêu tả: “Trong hệ mặt trời thì sao Mộc có từ trường mạnh nhất, là nguồn phát sáng mạnh của bức xạ vô tuyến ở các sóng dài hơn 7 mét. Bức xạ này xuất phát từ các điểm riêng biệt trên bè mặt, có tham gia vào chuyển động tự xoay của các hành tinh này. Những đợt phát sóng bức xạ vô tuyến kéo dài từ 1 giây đến 2 giây với công suất mạnh hơn cả công suất của các đợt phát sóng tương tự có bước sóng hàng mét trên mặt trời… Vậy nên người ta cho rằng bức xạ vô tuyến này là do các hạt tích điện chuyển động trong từ trường mạnh sinh ra”. Khi hiện tượng thiên văn thế kỷ xảy ra vào cuối tháng 7 năm 1994: sao Mộc bị sao Chổ Shocmaker Levy bắn phá dữ dội với một vận tốc khủng khiếp 61 km trong 1 giây. Vị trí của sao Mộc tại thời điểm bị oanh kích đó ở gần Mặt trời nhất khoảng 400 triệu km và cách xa trái đất xa hơn 450 triệu km đồng thời tạo thành một tam giác vuông và đỉnh góc vuông là Mặt trời. Điều lý thú là những kết quả thám sát được sau đó tại hiện trường đã làm đảo lộn những giả thuyết của các nhà khoa học trước đó khiến cho tiến trình nghiên cứu Mộc tinh càng được các nhà thiên văn phương Tây quan tâm đến nhiều hơn và đi tiên phong vẫn là các khoa học gia người Mỹ. Vậy là, cái bóng dáng lừng lững của gã khổng lồ Jupiter phải đợi mãi tới cuối thế kỷ 20 này mới được các nhà thiên văn phương Tây để mắt đến và cho tới nay, bí ẩn của Mộc tinh vẫn có là những giả thuyết. Trái lại, nếu nhìn lại lịch sử từ thời thượng cổ các chiêm tinh gia phương Đông đã dõi theo từng đường đi nước bước của vị ác tinh to lớn này vi hành đến năm nào sẽ phát tác uy lực mạnh nhất của mình để khuyến cáo con người cảnh giác, dự phòng trước những tai họa bất thường ập đến xem ra, chiêm tinh học phương Tây chậm thua phương Đông kể hàng thiên niên kỷ, như phải tới tháng 3 năm 1781 mới phát hiện sao Thiên vương, còn Hải vương tinh thì phải mãi tới năm 1845 mới được khám phá bởi người Pháp và người Anh.
Hà Vi Tử- Trí Thức Trẻ – số 40 – tháng 10 – 1998.

Phát hiện khoa học từ tranh chân dung

Thỉnh thoảng để thực hiện phát minh khoa học quan trọng, chỉ cần chiếc thước kẻ, và cái bút chì. Chính bằng cách ấy, người ta đã khám phá ra quy luật vàng, mà những họa sĩ vĩ đại nhất đã áp dụng một cách thức trong công việc sáng tạo của họ.
Tiến sĩ Christopher Tyler đã hòa nhập một cách tuyệt vời giữa hứng thú cá nhân và nghề nghiệp. Về chuyên môn, ông là nhà sinh lý học thần kinh, đời tư môn đồ say đắm của nghệ thuật hội họa. Mùa hè năm trước, khi quyết định đi nghỉ phép cùng vợ một nữ họa sĩ ông thầm hứa rằng sẽ dứt khoát không nghĩ gì đến công việc. Trước đó từ khi chuyển đến Eye Reseach Institute ở San Francisco của Mỹ, Tiến sĩ Christopher Tyler làm việc hăng say chưa từng thấy. Tại đây, ông nghiên cứu vấn đề một hình hóa toán học, quá trình nhìn và phát hiện vật thể, tùy thuộc vào hình dáng, màu sắc và bố cục của chúng. Ông dành nhiều thời gian nghiên cứu luật đối xứng, chính xác hơn, cơ chế sự phát hiện ra yếu tố này. Lúc nghỉ ở Asper, Tiến sĩ Christopher Tyler định bụng tạm quên hết mọi việc. Song không thể. Bệnh nghề nghiệp của Tiến sĩ Christopher Tyler bột phát, khi vợ ông vẽ xong bức tranh phong cảnh nhà nghỉ. Đạp xe tới thị trấn gần nhất, tiến sĩ Christopher Tyler mua chiếc bút chì, thước kẻ và cuốn bách khoa toàn thư về hội họa. Gần đây suốt cả ngày ông dán mắt vào những bức tranh minh họa, tiến sĩ Christopher Tyler kẻ những đường thẳng chia đôi bức tranh theo chiều thẳng đứng. Sau đó ông đối chiếu, so sánh tỉ mỉ hai nửa, song không phát hiện ra bất cứ dấu hiệu gì bất thường hoặc mang tính quy luật. Thực tế xảy ra như thế với những bức tranh phong cảnh, những bức phù điêu mang tính tôn giáo hay cho dân gian. Nhưng không phải đối với các bức chân dung… Bắt đầu từ tác phẩm của Mona của danh họa nổi tiếng Leonardo da Vinci tiến sĩ Christopher Tyler nhớ lại: Khi đặt thước kẻ để vạch trục đối xứng, tôi nhận ra rằng nó rơi đúng vào giữa con mắt trái của thiếu nữ. Bất ngờ trước điều kỳ lạ, ông tiếp tục công việc đo đạc những tác phẩm chân dung lừng danh khác, trong đa số các trường hợp kết quả lặp lại y nguyên như thế đường thẳng chia đôi bức tranh đồng thời chia đôi một con mắt. Trở về sau chuyến nghỉ phép, tiến sĩ Christopher Tyler dành hẳn vài ba ngày đến thư viện thành phố. Từng trang một, ông đo đạc hàng vạn tác phẩm trong hàng chục tập album. Trong cuộc tìm kiếm quy luật đối xướng, tiến sĩ Christopher Tyler lùi về tận thế kỷ thứ 15. Ông đặc biệt quan tâm đến những bức họ chân dung đầu tay của từng tác giả. Gộp lại, riêng trong lĩnh vực sơn dày, tiến sĩ Christopher Tyler đã đo đạc hàng nghìn tác phẩm của 265 họa sĩ. Số liệu thống kê công trình nghiên cứ được đăng trong tạp chí Discover Magazine thật là thú vị. Trong trên 1 phần 3 tác phẩm trục đối xứng chạy qua đúng giữa mắt trái. Trong 2 phần 3 số còn lại, trục đi hơi lệch, song không lớn hơn 5% chiều rộng của bức tranh. Trong tất cả các giáo trình dạy vẽ, không hề thấy điều quy định rằng con mắt hoặc thậm chí điểm giữa gương mặt phải trùng với đường trục đối xứng của bức tranh, tiến sĩ Christopher Tyler khẳng định như vậy. Thông thường các họa sĩ vẫn né tránh bố cục đối xứng bởi theo họ nó gây cảm giác tẻ nhạt. Điều đó có nghĩa rằng việc đặt con mắt vào đường đối xứng là quá trình hoàn toàn vô thức. Thậm chí đến thế hệ họa sĩ hiện đại, những người theo trường phái Picasso vốn thích đặt con mắt vào những vị trí bất ngờ nhất, trên gương mặt. Với khóe miệng thì khác, xác xuất rơi vào đường chạy giữa bức tranh chỉ bằng 30% so với con mắt? Ai cũng biết, người nghệ sĩ thực thụ bao giờ cũng hy vọng tái tạo chủ thể nhiều hơn sự giống về mặt thể chất. Họ cố gắng tái tạo cảm xúc, tình cảm và “cái hồn” của đối tượng, tiến sĩ Christopher Tyler lý giải và con mắt trở thành yếu tố thích hợp nhất. Không phải vô cớ, khi thiên hạ nói rằng, con mắt là cửa sổ của tâm hồn. Việc kéo dài hay rút ngắn một chút hình dáng cái mũi hoặc đôi tai ảnh hưởng không đáng kể đến mức độ trung thực của chân dung, trái lại, mọi sự thay đổi dù nhỏ nhất liên quan đến đôi mắt đều bị nhận ra ngay. Chỉ cần làm nhỏ chút xíu hoặc làm rộng khóe mắt đã có thể làm thay đổi hoàn toàn gương mặt, thí dụ từ con người tốt bụng thành kẻ giảo hoạt. Thay đổi chút xíu kích cỡ lòng đen con mắt, chắc chắn bạn sẽ cho hoặc bớt của đối tượng không ít cảm tình. Vậy nên không có gì lạ, khi trong tất cả các bộ phận, chính con mắt là điểm nổi bật nhất trên các bức chân dung. Chỉ một con mắt không phải đôi mắt bởi chỉ một con mắt có thể nằm trên trục đối xứng. Vì lý do gì người xem lại quan tâm nhiều nhất tới trục đường này? Có thể vì thực tế hai con mắt của chúng ta nằm rất gần nhau, tiến sĩ Christopher Tyler lý giải. Thế nên chúng ta dễ tập trung vào điểm giữa chiều dài hơn là điểm giữa chiều cao của mục tiêu quan sát. Có thể nhận ra điều này một khi bạn bắn súng ngắn. Sẽ dễ bắn trúng mục tiêu theo chiều thẳng đứng hơn là theo chiều nằm ngang. Thế nhưng có một dòng chân dung phá vỡ quy luật tiến sĩ Christopher Tyler. Đó là những chân dung các vị thánh. Đường trục đối xứng chạy qua giữa mũi, giải thích hiện tượng này, tiến sĩ Christopher Tyler khẳng định đó là hình ảnh những nhân vật không tồn tại trong thực tế. Đó không phải là chân dung con người bằng xương, bằng thịt mà nhân vật chưa ai nhìn thấy. (Theo GW số 25 tháng 8 năm 1998).
Trần Văn Đôn-Trí Thức Trẻ – số 40 – tháng 10 – 1998.

Kỷ niệm 300 năm sài gòn – thành phố hồ chí minh

Vài nét về dòng họ Nguyễn Cửu dòng võ tướng cao cấp đã có công tổ chức khai khẩn đất đai vùng Gia Định xưa.
Với sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược phương Nam vào năm Mậu Dần năm 1689, toàn bộ vùng đất này tương ứng với miền Đông Nam Bộ đã hoàn toàn thuộc về chúa Nguyễn. Nhưng, trên vùng đất mới này, dân chỉ mới được độ hơn bốn vạn hộ. Đó là một con số quá ít ỏi và vốn con số quá ít ỏi này, đất mới vẫn chủ yếu là đất hoang vu. Để có thể nhanh chóng xóa bỏ tình trạng này, các chúa Nguyễn Phúc Chu sinh năm 1691 đến năm 1725, Nguyễn Phúc Chú sinh năm 1725 mất năm 1738 và Nguyễn Phúc Khoát sinh năm 1738 mất năm 1765 đã thực hiện nhiều phương thức tổ chức khai khẩn khác nhau, trong đó, nổi bật lên bốn phương thức chính là lợi dụng lực lượng di thần và binh sĩ nhà Minh di cư sang nước ta kể từ năm 1679. Cho quan lại đứng ra chiêu mộ dân lưu tán vào khai khẩn đất hoang và định cư trên vùng đất mới. Sử dụng quân đội đồn trú ở Gia Định vào việc khai khẩn đất đai để vừa giữ gìn lãnh thổ, vừa tự giải quyết những nhu cầu thiết yếu về lương thực và thực phẩm. Cho phép vào tạo điều kiện cho tầng lớp đại địa chủ đứng ra chiêu mộ nhân dân các địa phương đi khẩn hoang. Trong bốn phương thức nói trên, phương thức thứ ba giữ một vị trí rất là quan trọng. Ngay từ năm 1688, các tướng lĩnh cao cấp như Mai Vạn Long và Nguyễn Hữu Hào đã từng cho quân lính khai khẩn nhiều vùng đất kéo dài từ Mỹ Tho về đến khu vực thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Sau năm Mậu Dần – 1698, chính Nguyễn Hữu Cảnh cũng từng cho binh sĩ của mình tham gia vào việc khẩn hoang, nhưng có công lớn nhất trong việc sử dụng quân đội đồn trú để tổ chức khai khẩn đất đai vùng Gia Định xưa vẫn là các tướng lĩnh cao cấp thuộc dòng họ Nguyễn Cửu. Theo ghi chép của Đại Nam Thục lục và Đại Nam liệt truyện thì dòng họ Nguyễn Cửu đã có đến trên một chục võ tướng cao cấp trong đó có rất nhiều người làm nên sự nghiệp ở đất Gia Định xưa. Báo cáo này không tham gia vào việc giới thiệu công lao khai khẩn đất đai của các võ tướng cao cấp thuộc dòng họ Nguyễn Cửu, chỉ xin giới thiệu và nét về lai lịch của dòng họ Nguyễn Cửu mà thôi.
Thời Lê Thế Tông sinh năm 1573 mất năm 1599 bà Lê Kính Tông sinh năm 1599 mất năm 1619 có quan diện Tiền Đồ Kiếm Điểm là Nguyễn Quảng. Nguyễn Quảng người huyện Tống Sơn nay thuộc Thanh Hoá. Ông được phong tới chức Quận Công, Nguyễn Quảng có con trai tên là Nguyễn Kiều cùng là một võ tướng. Vì không phục chúa Trịnh là Trịnh Tùng sinh năm 1570 mất năm 1623, Nguyễn Kiều đã nhận mật thư của Trịnh Phi Nguyễn Thị Ngọc Tú rồi trốn vào Nam. Nguyễn Kiều được chúa Nguyễn Phúc Nguyên đón tiếp rất nồng hậu, gả con gái là Nguyễn Thị Ngọc Đình cho, lại cho Nguyễn Kiều được mang họ Nguyễn Phúc, vì thế sử cũ vẫn thường chép họ tên ông là Nguyễn Phúc Kiều. Đến năm Minh Mạng nguyên niên năm 1820, dòng họ Nguyễn Phúc này mới được đổi thành Nguyễn Cửu. Nguyễn Cửu Kiều có hai người con trai rất là nổi tiếng, đó là Nguyễn Cửu Ứng và Nguyễn Cửu Dực. Cả hai đều là võ tướng cao cấp, Nguyễn Cửu Ứng từng được chúa Nguyễn Phúc Trăn sinh năm 1687 mất năm 1691 phong tới Chưởng Doanh Thống Chế. Nguyễn Cửu Dực cũng được chúa Nguyễn Phúc Trăn phong tới chức Chưởng Doanh Thống Chế như anh.
Con trưởng của Nguyễn Cửu Kiều là Nguyễn Cửu Ứng có hai người con trai được sử cũ nhắc tới. Người thứ nhất, con trưởng tên là Nguyễn Cửu Thế còn có tên khác là Nguyễn Cửu Ứng có hai người con trai được sử cũ nhắc tới. Người thứ nhất còn có tên khác là Nguyễn Cửu Vu, vừa là võ tướng cao cấp được chúa Nguyễn Phúc Chú sinh năm 1725 mất năm 1738 phong tới chức Hữu Quân Đô Đốc, Thiếu Phó, lại vừa được kết duyên với con gái của chúa Nguyễn Phúc Chu sinh năm 1691 mất năm 1725 là Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Con trai thứ của Nguyễn Cửu Ứng là Nguyễn Cửu Khâm thì rất tiếc là do chơi bời lêu lổng, bị phạm tội nên không được cất nhắc gì. Con thứ của Nguyễn Cửu Kiều là Nguyễn Cửu Dực có một người con rất nổi tiếng đó là Nguyễn Cửu Vân. Ông là người từng nhiều phen cầm quân tung hoành ở đất Gia Định, được chúa Nguyễn Phúc Chu sinh năm 1691 mất năm 1725 phong tới chức Phó Tướng dinh Trấn Biên. Chính Nguyễn Cửu Vân là người đã tổ chức rất là thành công việc khai khẩn miền đất từ Cù Úc nay thuộc tỉnh Tiền Giang về đến tận đất Sài Gòn.
Thế hệ thứ tư của dòng họ Nguyễn Cửu ở xứ Đàng Trong cũng có không it võ tướng cao cấp, và có tài tổ chức khẩn hoang. Về dòng trưởng, Nguyễn Cửu Thế có ba người con trai là Nguyễn Cửu Quý, Nguyễn Cửu Thông và Nguyễn Cửu Pháp. Nguyễn Cửu Quý được phong tới Ngoại Hữu Chưởng Doanh, khi mất được truy tặng hàm Tá Lý Công Thần, Tả Quân Đô Đốc, tước Uyên Quận Công. Nguyễn Cửu Thông được phong tới chức Nội Tả Chưởng Doanh, khi mất được phong hàm Trấn Thủ, tước Kính Quận Công. Nguyễn Cửu Pháp được lấy con gái thứ tư của chúa Nguyễn Phúc Chú sinh năm 1725 mất năm 1738 là Nguyễn Thị Ngọc Doãn, được phong tới chức Nội Hữu Chưởng Doanh, tước Hoán Quận Công.
Về dòng thứ, Nguyễn Cửu Vân có ba người còn rất nổi tiếng. Một là Nguyễn Cửu Triêm được phong tới chức Thống Tướng dinh Trấn Biên. Hai là Nguyễn Cửu Đàm, được phong tới Hữu Quân Phó Tiết Chế. Và bà là bà Nguyễn Thị Khánh tức Bà Nghè, người đã tổ chức khai khẩn đất đai vùng sông Bình Trị tức sông Thị Nghè ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay và để lại cho đời tên đất Thị Nghè rất là trìu mến.
Lý Thị Mai-Trí Thức Trẻ – số 40 – tháng 10 – 1998.

Vì sao thilemon và baukis không sống bên nhau mãi mãi?

Philemon yêu Baukis và Baukis say đắm Philemon. Sự âu yếm của Philemon đã giúp Baukis vượt qua mọi nỗi ưu phiền. Vào những phút giây bâng khuâng, nghi hoặc, Philemon có thể dựa vào lòng chung thủy không có gì phá vỡ nổi của Baukis. Họ bố sung cho nhau một cách tuyệt đẹp và luôn luôn khăng khít bên nhau. Trước mắt họ, người ta tán dương những phẩm hạnh của tình yêu, thì quả thật họ không hiểu là người ta đang nói chuyện gì nữa. Đối với họ, tình yêu thật sự tự nhiên như thể hoạt động hô hấp hoặc tiêu hóa vậy. Hoặc như chính bản thân cuộc sống. Năm tháng qua đã nhuộm bạc tóc thái dương, uốn còng lưng xuống và làm hằn lên gương mặt những dấu ấn chỉ có họ mới hiểu được. Một hôm, Philemon vô cùng ngạc nhiên phát hiện ra rằng lòng chung thủy của Baukis khiến ông ớn đến tận mang tai, và ông đã bỏ đi cùng với một cô bán hàng trẻ tuổi. Song ông lại cảm thấy thương hại bà Baukis nên ông đã gửi về cho bà một kẻ thay thế chính ông. Tất nhiên, đó là Robot có tên gọi là Philemon. Chương trình của nó thật đơn giản, không chút ma mãnh: yêu Baukis một cách âu yếm, thủy chung, cho đến khi từ giã cõi đời này. Cơ cấu của Robot hàm chứa tất cả những đặc điểm riêng của nguyên mẫu thực. Hơn nữa chúng lại được hiệu chỉnh cho phù hợp với những quan niệm lý tưởng của Baukis. Baukis ngạc nhiên đến bực mình, khi chiều hôm đó, thay vì chồng bà, kẻ trở về nhà lại là một robot. Nhưng tình cảm của Philemon robot thật là nồng nhiệt, hết mực đồng cảm, và bà Baukis, cuối cùng đành cam chịu nghe những lời âu yếm thì thầm rót vào tai trước khi đi ngủ không phải từ một con người thực, mà từ một robot với những cơ quan bằng plastic. Và rồi lại ngân lên một khúc ca hoa tình, khi bà Baukis khốn khổ đâm ra phải lòng ông Tomasek góa vợ, một nhân viên ngành đường sắt đã nghỉ hưu, và bỏ rơi Philemon robot. Nhưng bà cảm thấy là cần phải an ủi Philemon trong tình cảnh đau khổ của ông bao năm sống hòa thuận đã gắn bó họ với nhau vì vậy bà đã gửi về một Baukis robot thay vì chính bản thân bà. Như vậy là tình yêu của Philemon và Baukis được lưu giữ trong mạng siêu dẫn bằng tinh thể của trí tuệ dẫn bằng tinh thể của trí tuệ điều khiển học và tình yêu đó lý tưởng đến mức tên tuổi của Philemon và Baukis đã đi vào huyền thoại và trở thành biểu tượng của hạnh phúc vợ chồng. Đôi vợ chồng già lụ khụ sống khiêm tốn trong một boong-ke tồi tàn bằng bê tông, không có ai quấy rầy họ cả. Một lần, không biết có một con cáo dại từ đâu chạy đến cắn vào chân Baukis nhưng lập tức nó bị gãy răng và vừa kêu ăng ẳng vừa bỏ chạy, tìm cắn con gì đó có thịt mềm hơn. Tuy nhiên Philemon vẫn tỏ ra hết sức lo lắng. Con vật không hạ được bà đấy chứ, bà Baukis của tôi? Ông đừng lo lắng, ông Philemon thân yêu! Thứ tôn-tiban không làm cho con cáo khốn khổ đó khoái khẩn đâu. Tôi không biết, tôi không biết, có lẽ tôi cần phải dùng máy hàn hơi rà một lượt trên chân bà. Để phòng xa, Philemon nhíu mày lại, còn Baukis thì cười lảnh lót đáp lời ông, bà thật sự cảm động trước sự quan tâm của ông. Sau đó, khi các điều kiện trên trái đất không còn thích hợp với sự sống và loài người di cư lên các sa mạc của Sao Hỏa mà người ta thấy bà niềm nở hơn rất nhiều so với những gì họ còn để lại nhà, thì Philemon và Baukis bị bỏ mặc muốn ra sao thì ra. Những người di dân mang theo tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống trên sao Hỏa, kể cả từ chiếc móng ngựa đã hoen gỉ đến mớ dây buộc đã cũ rích. Nhưng họ cần gì đến những robot được đặt chương trình một cách thiếu thực dụng? Philemon và Baukis ở lại trái đất hoàn toàn đơn độc, có điều là chuyện đó không khiến họ lo lắng, chúng ta biết là họ yêu thương nhau biết bao! Đã trôi qua một số đúng hơn là nhiều thời kỳ băng hà, kỳ thứ năm được thay bằng kỳ thứ sáu, rồi kỳ thứ bảy, thứ tám. Trước mắt của Philemon và Baukis đã từng xuất hiện nhiều loài mới của thế giới động vật một số loài thậm chí còn có trí tuệ nữa. Đôi vợ chồng già từ lâu không còn ra ngồi ngoài bậc của boong – ke, như trước đây nữa, bởi vì bê tông đã hoàn toàn vụn nát ra sau hàng chục nghìn năm. Hơn nữa lúc này chỗ trú thân của đã nằm ở độ sâu là 8 nghìn mét so với mặt nước biển. giống như những tảng đá đơn côi, họ thì thầm với nhau:
Bà có yêu tôi không, Baukis?
Có chứ, tất nhiên rồi… Thế ông có yêu tôi không, Philemon? Thì chính bà biết rồi mà. Thi thoảng Baukis lại thấy khó ở, và Philemon lúc nào cũng cần mẫn chăm sóc bà bằng cách thay những khối tinh thể đã củ hỏng bằng những khối mới do chính tay ông chế tạo nhờ một thiết bị kích thích vi xử lý nhỏ xíu. Philemon sẽ không làm được gì, nếu không có cái thiết bị xách tay mà đi đâu ông cũng mang theo trong chiếc bị nhỏ của mình. Còn khi bệnh tật quật ngã Philemon thì Baukis cũng chăm sóc ông một cách quên mình như vậy. Các thời kỳ băng hà càng ngày càng kéo dài lâu hơn. Băng phủ kín Trái đất phản chiếu sắc đỏ như máu qua các chùm tia của Mặt trời đang tắt dần. Tất cả các đại diện của thế giới động vật đều tan biến mất, không để lại dấu vết gì. Trên những tảng đá lớn và cả trên lưng Philemon, điều này gợi lên những lần cười khanh khánh và những lời trêu đùa hồn hậu của Baukis mọc trên những đám rêu màu hung, còn những khoảng trống giữa các tảng đá thỉnh thoảng lại thấy có cái gì đó lấp lánh lấp lánh. Thời tiết xấu cũng không làm phiền đôi bạn tình cao tuổi. Đáng tiếc là điều đó cũng không giúp được gì, khi sức nóng lên cao quá. Của đáng là khi Philemon và Baukis chưa trị cho nhau, họ cũng có phần nào hơi cẩu thả. Những tiếp điểm mới được hàn một cách trìu mến, thực ra không còn được chắc chắn như trước đây.
Cao Giang- Trí Thức Trẻ – số 33 – tháng 3 – 1998.

Cuộc tranh luận thú vị không nên ân xá tử tù

Nhưng giết thêm một mạng con tôi nữa để làm gì? Hãy tha cho nó được sống, để cho nó một cơ hội được ngẫm nghĩ về tội ác nó đã gây ra, và có lẽ nó sẽ khác đi chăng?”. Và đáp lại bức thư này là một bức thư của một bà mẹ bất hạnh khác từ thành phố Voronhetxo: Đặt tay lên trái tim và tự hỏi: Có bao nhiêu kẻ sát nhân sẽ mang lại lợi ích cho xã hội? Lợi ích duy nhất mà chúng mang lại, có lẽ là làm cho ngành công an không bao giờ có người thất nghiệp. Một có vòng tìm kiếm, truy bắt nghiên cứu, kết tội luôn căng thẳng, tốn nhiều công của, trí lực của biết bao người lương thiện. Còn những kẻ giết người, nếu được ân xá thì sau khi mãn hạn lại ngựa quen đường cũ. Hãy thử nghĩ mà xem. Chúng ta đã giết con trai duy nhất của ai? Và kẻ sát nhân thì vẫn được gia ân sống? Bà đề nghị ân xá cho con trai bà – kẻ giết người bằng lòng nhân đạo từ những bà mẹ khốn khổ có con bị giết? Bà thử nghĩ xem có ai bằng lòng không? Bọn sát nhân đã giết đứa con giá bé bỏng 11 tuổi của tôi. Nó là lẽ sống, là niềm vui của tôi. Vì vậy, tôi muốn nói với bà rằng: Đừng tiếp tay cho kẻ sát nhân dù chỉ bằng cách xin cho nó được sống để mà ân hận. Hãy nhớ rằng kể cả trong cổ tích thì những nhân vật ác độc bao giờ cũng phải chết! Không, tôi không loạn trí đâu. Tôi chỉ là mẹ của ba đứa trẻ. Là nhà sư phạm. Tôi yêu mọi người, yêu lũ trẻ, dù chúng là ruột thịt của mình hay của người dưng. Và căm thù bọn sát nhân. Đừng ấu trĩ mà nghĩ rằng tống bọn sát nhân vào tù để chúng không thể nào chạy thoát và gây thêm tội ác. Hãy biết: nhà tù chính là nơi tốt nhất bảo vệ bọn giết người khỏi bị thân nhân của người bị hại xé ra từng mảnh trước khi bị xử tử hình. Sẽ ít bọn sát nhân hơn, nếu mỗi tên trong bọn chúng hiểu rằng, mày cướp đi mạng sống của kẻ khác thì nhất định mày phải thế mạng của mày vào! Phải rồi, những kẻ giết người cũng có mẹ, và chúng cũng phải đau khổ, dằn vặt? Cứ để cho Đấng tối cao lấy đi từ chúng sự kế thừa nòi giống. Bởi vì chúng sẽ giáo dục ai đây? Một kẻ giết người mới ư? Và nếu chúng đã có con cái, thì tội nghiệp thay cho lũ trẻ bơ vơ đầy tủi hổ sau án tử hình của cha chúng. Biết làm sao được, hãy cứ dành cho đứa trẻ mồ côi những sự bảo trợ về vật chất khi chúng mất đi người nuôi dưỡng. Nhưng kẻ nuôi dưỡng ấy phải diệt ngay. Tha lỗi cho tôi, hỡi những ai không chung ý nghĩ. Hãy hiểu cho tôi khi các vị ở vào hoàn cảnh của tôi. Chúng đã giết tôi đồng thời với cái chết của con gái tôi. Và tên sát nhân thì được sống? là nạn nhân tiếp theo của hắn đấy. (ký tên một người mẹ). Thiết nghĩ, tôi không cần ghi tên họ làm gì, hàng nghìn người mẹ bất hạnh sẽ ký vào đây! Và cuối cùng, chúng tôi trích đăng một đoạn từ bức thư của ông Khomicop từ thành phố laroxlap. Bức thư nặng nề một tâm trạng trước sự sống và cái chết. Số phận thật trớ trêu khi ông trời xếp đặt tôi, run rủi cho tôi sống cạnh nhà tù ở Karovnhiki nhà tù này tồn tại từ trước cách mạng. Những chuyến xe chở tù ngày ngày đi qua nhà tôi. Ngày nào tôi cũng nhìn thấy những tử tù ngóng ra ngoài bằng chiếc cửa sổ bé tí trên những chiếc xe kiên cố, kín mít. Khi tới nơi, những chiếc cửa sổ bé tí trên những chiếc xe kiên cố, kín mít. Khi tới nơi, những chiếc xe tù dừng lại, những cảnh sát cai ngục đặc biệt tay lăm lăm súng, mở cửa đẩy tên tù bị còng tay đi vào nhà giam. Tôi còn nhớ như in cái lần tôi nhìn thấy một tên giết người, trông nó thật là hiền lành, trắng trẻo. Bạn cũng sẽ không thể ngờ rằng một con người thư sinh như thế lại có thể giết cô gái trẻ bằng con dao nhọn. Tên giết người đi lảo đảo, có lẽ vì đã uống rượu. Bước chân vô định của hắn dừng lại bên cánh cổng, một đôi trai gái đang tình tự. Có thể họ đang bàn về tương lai, khi đứa con của họ ra đời? Tên sát nhân có vẻ không hài lòng điều gì đó có cặp tình nhân kia. Có lẽ là niềm hạnh phúc đang tràn trề trên hai khuôn mặt đôi tình nhân? Và không nói không rằng, tên sát nhân rút dao ra, đâm vào lưng người thiếu nữ. Chàng trai cũng bị hắn đâm vào dao, nhưng may thay anh được cứu sống. Tiếng kêu tuyệt vọng lúc sắp lìa đời của cô gái trẻ còn văng vẳng bên tai tôi. Và có lẽ tên sát nhân là người nghe rõ nhất. Tôi luôn tự hỏi: ở cái phòng biệt giam tử tù kia, liệu trái tim hắn có luôn bị cào xé bởi tiếng kêu xé ruột trước khi chết của cô gái trẻ vô tội? Phải nghĩ thế nào đây? Không có một cái cân nào, dù là cân của con người hay cân của trời, mà cân bằng được cuộc đời của kẻ sát nhân với cô gái trẻ có những lọn tóc óng vàng kiều diễm thả xuống bờ vai. Có nên treo cổ kẻ giết người kia không? Hay là nên nhớ tới lời của Chúa, rằng mọi số phận được sinh ra hay bị lấy đi đều bởi bàn tay của Chúa? Câu hỏi ấy day dứt tôi suốt từ cái giây phút xảy ra vụ giết người ghê tởm này. Làm thế nào với những tử tù đây? Tôi nghĩ hãy cứ để cho chúng sống. Chúng ta sẽ theo dõi cuộc sống đầy dằn vặt của chúng. Nghĩa là chỉ có Chúa trời mới có thể phán xét về sự sống của con người. Và quyết định ấy sẽ hoàn toàn chính xác. Bài báo “Hòn đảo của những kẻ tử tù được ân xá” đã và đăng từ tháng 9 năm 1997. Những bức thư xoay quanh nó vẫn tiếp tục chảy về toàn soạn không ngừng. Những nhân chứng khác nhau. Có lẽ đến một lúc nào đó chúng ta sẽ tìm được câu trả lời tin cậy duy nhất cho câu hỏi hóc búa về sự sống và cái chết này? (Theo tạp chí gia đình Nga).
Phạm Kim Ngân- Trí Thức Trẻ – số 33 – tháng 3 – 1998.